Thứ Tư, 7 tháng 12, 2016

Khám phá nguyên nhân tập đoàn Thái nhòm ngó thị trường đồ uống Việt Nam

Không chỉ nhắm tới Sabeco, tỷ phú giàu thứ ba Thái Lan còn muốn sở hữu số lượng lớn cổ phần tại công ty sữa hàng đầu của Việt Nam là Vinamilk. Công ty F&N Dairy Investments Pte Ltd của đại gia này đã hoàn tất thương vụ mua 15 triệu cổ phiếu VNM hôm 21/8. Tính thêm số cổ phiếu thưởng chốt ngày 13/8, đơn vị này hiện sở hữu 110,4 triệu cổ phiếu VNM, tương đương 11,04% vốn điều lệ. Tính chung 6 phiên giao dịch vừa qua, giá bình quân mỗi cổ phiếu VNM đạt 113.000 đồng. Sau thương vụ nói trên, công ty đã trở thành cổ đông lớn thứ hai của Vinamilk sau Tổng công ty Đầu tư và Kinh doanh vốn Nhà nước (SCIC).
Những thương hiệu lớn trong ngành đồ uống của Việt Nam đang là mục tiêu mà các nhà đầu tư ngoại muốn chiếm hữu.
Theo Tổ chức Business Monitor International (BMI), nhóm đồ uống và thực phẩm của Việt Nam có tốc độ tăng trưởng hằng năm 9,43%, trong đó doanh thu đồ uống có gas tăng 6,9%. Thứ trưởng Công Thương Hồ Thị Kim Thoa nhận định triển vọng của ngành này rất sáng sủa do đồ uống là mặt hàng không thể thiếu trong tiêu dùng hằng ngày. Dự báo doanh số vào năm 2016 sẽ tăng trưởng ở mức 2 con số.
Đây là lý do khiến nhiều đại gia ngoại theo nhau để mắt tới các công ty đồ uống Việt Nam. Gần đây nhất, ThaiBev - công ty của tỷ phú giàu thứ 3 Thái Lan tiết lộ ý định sở hữu lượng lớn cổ phần tại Công ty Rượu bia nước giải khát Sài Gòn (Sabeco). Trước đó họ đã có buổi gặp với Chính phủ Việt Nam và đề xuất mong muốn mua cổ phần Sabeco. ThaiBev định giá Sabeco ở mức 2 tỷ USD.
Sabeco đang có kế hoạch thành lập hội đồng tái cấu trúc công ty và bán tối đa 53% cổ phần cho một hoặc vài nhà đầu tư chiến lược. Chính phủ hiện sở hữu 89% công ty này. Trao đổi với VnExpress, ông Phan Đăng Tuất, Chủ tịch Hội đồng quản trị Sabeco cho biết đã nhận được xuất này nhưng quyền quyết định cuối cùng thuộc về Bộ Công Thương.
“ThaiBev định giá Sabeco 2 tỷ USD chưa sát với thực tế. Giá trị của công ty cao hơn thế", ông Tuất khẳng định.
Theo hãng nghiên cứu Euromonitor, Sabeco hiện chiếm lĩnh 46% thị trường bia Việt Nam với nhiều thương hiệu như 333 hay Bia Sài Sòn. Báo cáo tài chính 6 tháng của Sabeco cho thấy, hãng đã bán được 649,8 triệu lít bia trong nửa đầu năm, tăng 4% so với cùng kỳ năm ngoái. Doanh thu nửa đầu năm tăng 6% so với năm ngoái lên 14.300 tỷ đồng (680 triệu USD).
Năm 2014, Tổng công ty đặt mục tiêu doanh thu 29.322 tỷ đồng, tăng 3%, còn lãi trước thuế 3.672 tỷ đồng, tăng 3% so với cùng kỳ năm ngoái.
Khá nhiều tên tuổi đình đám một thời trên thị trường bia Việt Nam cũng đã thuộc sở hữu của nhà đầu tư ngoại. Cuối năm 2011, hãng bia Carlsberg (Đan Mạch) mua toàn bộ Huda Beer (bia Huế). Carlsberg cũng đang sở hữu 55% nhà máy bia tại Bà Rịa-Vũng Tàu có công suất 50 triệu lít một năm. Trong liên doanh Nhà máy bia Đông Nam Á (Halida) với Công ty bia Việt Hà, Carlsberg sở hữu 60% và thêm 30% trong liên doanh với Công ty bia Hạ Long. Với Habeco, Carlsberg đang sở hữu 17,23% vốn điều lệ nhưng đang đề xuất tăng phần vốn nắm giữ lên 30%...
Công ty của tỷ phú giàu thứ 3 Thái Lan đang mong muốn sở hữu bia Sài Gòn. Ảnh: WS
"Chính những tỷ lệ sở hữu này cũng gây áp lực lớn cho Bia Sài Gòn khiến 2 năm gần đây thị phần của Sabeco sụt giảm từ 46% xuống 44% trong 2013", một chuyên gia chứng khoán ở TP HCM phân tích.
Không chỉ nhắm tới Sabeco, tỷ phú giàu thứ ba Thái Lan còn muốn sở hữu số lượng lớn cổ phần tại công ty sữa hàng đầu của Việt Nam là Vinamilk. Công ty F&N Dairy Investments Pte Ltd của đại gia này đã hoàn tất thương vụ mua 15 triệu cổ phiếu VNM hôm 21/8. Tính thêm số cổ phiếu thưởng chốt ngày 13/8, đơn vị này hiện sở hữu 110,4 triệu cổ phiếu VNM, tương đương 11,04% vốn điều lệ. Tính chung 6 phiên giao dịch vừa qua, giá bình quân mỗi cổ phiếu VNM đạt 113.000 đồng. Sau thương vụ nói trên, công ty đã trở thành cổ đông lớn thứ hai của Vinamilk sau Tổng công ty Đầu tư và Kinh doanh vốn Nhà nước (SCIC).
Ông Trần Bảo Minh, chuyên gia marketing ngành hàng tiêu dùng cho rằng, tại Việt Nam, Sabeco và Vinamilk đều là 2 công ty đứng đầu nhóm ngành của họ, cho nên việc các nhà đầu tư ngoại nhắm vào những đối tượng này là cơ hội giúp tiếp cận thị trường Việt nhanh nhất.
Tuy nhiên, chỉ khi tỷ lệ sở hữu trên 50% họ mới có thể bắt đầu chi phối và thực hiện triển khai các quyết định lớn. Vì vậy, khi nhắm tới Sabeco họ cũng muốn có trong tay lượng lớn cổ phần chứ không chỉ vài phần trăm. Còn riêng Vinamilk, trong tương lai tỷ lệ sở hữu của đại gia này tại đây có thể sẽ được nâng lên.
"ThaiBev là tập đoàn sử dụng nhiều chuyên gia cao cấp của các tổ chức đa quốc gia nên họ quốc tế hóa thương hiệu rất nhanh. Nếu Bia Sài Gòn dưới sự điều hành của ông chủ này, nhãn hiệu bia của Việt Nam có thể vươn ra thế giới nhanh hơn. Ngược lại, đại gia Thái Lan sẽ có thêm bàn đỡ để từng bước đưa sản phẩm ở phân khúc cao cấp của họ tới người tiêu dùng Việt, cái mà doanh nghiệp trong nước chưa đạt được", ông Minh nói thêm.
Chuyên gia marketing kỳ cựu này nhận định, thị trường đồ uống Việt Nam không chỉ cạnh tranh khốc liệt như hiện nay, mà còn thanh lọc đào thải nhanh chóng nếu các thương hiệu Việt không tự làm mới, tạo uy tín và củng cố chất lượng.

Chia sẻ với bạn tin tức F&B: Dần lọt vào tay DN nước ngoài

Giải thích lý do chấp thuận hợp tác với Mondelez, ông Trần Kim Thành, Chủ tịch Công ty CP Kinh Đô, cho biết: "Kinh Đô định hướng 10 năm tới sẽ phát triển đa ngành nghề, đa sản phẩm. Kinh Đô sẽ tham gia vào những ngành có quy mô lớn và thiết yếu, nên việc chuyển nhượng 80% mảng bánh kẹo cho Mondelez sẽ giúp Kinh Đô có đủ nguồn lực để thực hiện chiến lược của mình. Bên cạnh đó, việc đầu tư này kỳ vọng sẽ mang đến những cơ hội phát triển mới cho các nhãn hiệu cùng đội ngũ nhân sự của Kinh Đô, cũng như bổ sung nguồn lực để đầu tư vào các nhãn hiệu được yêu thích của Kinh Đô bao gồm Cosy, Solite và AFC cho người tiêu dùng Việt Nam".
Thời điểm tốt để bán
Sau khi chiếm lĩnh thị trường thực phẩm, nước chấm, Masan đã đầu tư mạnh lĩnh vực đồ uống, bắt đầu từ thương vụ đầu tư nắm giữ 63,5% Nước khoáng Vĩnh Hảo, 53,2% Vinacafé Biên Hoà và sau đó là chi 252 tỷ đồng để mua Công ty CP Bia và Nước giải khát Phú Yên. Các thương vụ này đang mang lại cho Masan "trái ngọt" đầu tiên.
Theo báo cáo 9 tháng năm 2014, doanh thu của Masan Group đạt 10.833 tỷ đồng, tăng 44,3% so với cùng kỳ năm 2013. Sự tăng trưởng này có dấu ấn của Masan Consumer với những sản phẩm mới ra mắt trong các ngành hàng gia vị, thực phẩm tiện lợi và đồ uống.
Theo đánh giá chung, F&B là thị trường cạnh tranh khá khắc nghiệt, nên một mặt các DN Việt Nam do thiếu nguồn lực thúc đẩy tăng trưởng, có nguy cơ thua lỗ trong 3 - 5 năm nữa, dẫn đến quyết định bán hoặc phải gia tăng sức cạnh tranh mạnh mẽ. Trong khi đó, đây là một ngành có lợi nhuận ổn định và cao nên vẫn có sức hút đối với các tập đoàn lớn trong và ngoài nước.
Đó là lý do được nhiều nhà phân tích nhìn nhận trong thương vụ Tập đoàn Mondelez International (Mỹ), hiện đang có 2 sản phẩm được bán tại Việt Nam là bánh quy Orea và Ritz, đã mua 80% cổ phần tại Công ty CP Kinh Đô Bình Dương với giá 370 triệu USD (7.846 tỷ đồng).
Mức chi tiêu dành cho thực phẩm và đồ uống bình quân đầu người tại Việt Nam hiện đang ở mức thấp nhất, chỉ 201 USD/người (năm 2011).
Nhưng ước tính đến năm 2016, tổng chi tiêu của người tiêu dùng với thực phẩm và đồ uống sẽ tăng lên 25,2 tỷ USD so với mức 17,7 tỷ USD năm 2011.
Giải thích lý do chấp thuận hợp tác với Mondelez, ông Trần Kim Thành, Chủ tịch Công ty CP Kinh Đô, cho biết: "Kinh Đô định hướng 10 năm tới sẽ phát triển đa ngành nghề, đa sản phẩm. Kinh Đô sẽ tham gia vào những ngành có quy mô lớn và thiết yếu, nên việc chuyển nhượng 80% mảng bánh kẹo cho Mondelez sẽ giúp Kinh Đô có đủ nguồn lực để thực hiện chiến lược của mình. Bên cạnh đó, việc đầu tư này kỳ vọng sẽ mang đến những cơ hội phát triển mới cho các nhãn hiệu cùng đội ngũ nhân sự của Kinh Đô, cũng như bổ sung nguồn lực để đầu tư vào các nhãn hiệu được yêu thích của Kinh Đô bao gồm Cosy, Solite và AFC cho người tiêu dùng Việt Nam".
Theo Business Monitor International (BMI), kể từ năm 2010, tốc độ tăng trưởng của ngành bánh kẹo Việt Nam liên tục đạt 10%. Năm 2013, doanh thu của ngành này trên 29.000 tỷ đồng. Tuy nhiên, dự báo đến năm 2014, tốc độ tăng trưởng của ngành (bao gồm cả chocolate) cũng chỉ có thể đạt từ 8 đến 10%.
Vì thế, Kinh Đô muốn có những đầu tư mới vào những ngành có tốc độ tăng trưởng cao hơn. Cụ thể, Kinh Đô đang lên kế hoạch sở hữu tại Tổng công ty Công nghiệp Dầu thực vật Việt Nam (Vocarimex) từ 24% lên trên 51%.
Phía đối tác của Kinh Đô, ông Tim Cofer, Phó chủ tịch cấp cao và Chủ tịch Khu vực Châu Á -Thái Bình Dương, Đông Âu, Trung Đông và châu Phi của Monelez International, chia sẻ: "KDC có 4 điểm hấp dẫn chúng tôi. Một là Kinh Đô sở hữu những nhãn hiệu lớn đã trở thành một biểu tượng của Việt Nam.
Hai là Kinh Đô có nhà máy cả ở miền Nam và miền Bắc. Ba là Kinh Đô phát triển ở nhiều phân khúc thị trường khác nhau, cả nông thôn và thành thị. Và bốn là Kinh Đô có bộ máy quản trị đầy năng lực và kinh nghiệm, có tầm nhìn tương đồng với Mondelez".
"Chọn thỏ, bỏ bò cạp"
Theo ông Đoàn Đình Hoàng, chuyên viên tư vấn thương hiệu, sự dịch chuyển của thị trường F&B trong những năm gần đây bắt nguồn từ 3 yếu tố chính: Tính chất thiết yếu của hàng thực phẩm tiêu dùng giúp các DN trong nước vượt qua suy thoái và tăng trưởng tốt.
Các DN nước ngoài tìm thị trường mới để tăng trưởng và Việt Nam là một lựa chọn tốt vì tiềm năng của nền kinh tế mới nổi và dân số trẻ dồi dào. Người dân cởi mở với các mô hình bán lẻ hiện đại cũng là yếu tố quan trọng khiến thị trường F&B thu hút đầu tư nhiều hơn.
Tuy nhiên, tham gia thị trường này cũng có không ít các DN "bỏ cuộc chơi" do không đủ sức cầm cự trong giai đoạn khó khăn, phần lớn DN Việt không đủ sức cạnh tranh với những DN nước ngoài, chưa thể hiện được sức cạnh tranh cũng như tăng trưởng chậm lại khi làn sóng các thương hiệu nước ngoài tăng mạnh.
Chẳng hạn, hai thương hiệu F&B nổi tiếng của Việt Nam cũng đang ngấp nghé rơi vào tay các DN nước ngoài là Bibica và Tribeco. Kể từ khi mọi hoạt động của Tribeco Sài Gòn chuyển sang cho Tribeco Bình Dương, công ty này cũng gần như biến mất trên thị trường.
Một số thương hiệu F&B nội địa tiếp tục các phương án mở rộng thị trường và giữ thế thủ. Chẳng hạn, Trung Nguyên cũng vừa ký kết hợp tác với Tập đoàn Global Hotels Management LLC (GHM) để mở các chuỗi quán cà phê sang trọng và phân phối cà phê của Trung Nguyên tại Dubai và Ả rập thống nhất (UAE).
Ông Masood Hashim, Phó chủ tịch, Giám đốc Điều hành GHM, cho biết: "UEA là thị trường có tốc độ tăng trưởng lượng tiêu thụ cà phê và trà cao, khoảng 85% suốt 3 năm qua, cao nhất trong khu vực. Ngoài việc mở những chuỗi quán cà phê Trung Nguyên tại Dubai cũng như khu vực UAE, GHM sẽ phân phối các loại cà phê cao cấp Weasel, Legendee và cà phê hòa tan G7 của Trung Nguyên tại thị trường này".
Từng kinh nghiệm trong lĩnh vực F&B và hiện đang hợp tác với Tập đoàn Dole, ông Nguyễn Lâm Viên, Tổng giám đốc Công ty Vinamit, cho rằng, DN Việt Nam sẽ rất khó cạnh tranh trong tương lai nếu không hợp tác với bên ngoài. Đơn cử, doanh số của Vinamit chỉ lên tới vài trăm tỷ đồng, nhưng nếu hợp tác, tham vọng vài tỷ USD cũng không phải là quá khó.
Hiện Dole chỉ bán chuối và mít, nhưng doanh số hằng năm đã lên tới 7 tỷ USD. "Tuy nhiên, hợp tác phải thủ thế. Vì thực tế cho thấy không ít DN F&B của Việt Nam khi hợp tác với nước ngoài đều bị thâu tóm. Làm thế nào để con thỏ cõng mình đi không bị biến thành con bò cạp quay lại cắn mình", ông Viên cảnh báo.

Tại sao gọi Việt Nam là công xưởng giày dép thế giới?

Tuy nhiên, theo ông Nguyễn Hoàng Phi Phụng, Phó trưởng Ban quản lý Khu công nghiệp - Khu chế xuất TP.HCM (Hepza), từ đầu năm đến nay, hầu như đơn vị chưa cấp mới cho bất kỳ nhà đầu tư ngành da giày nào, dù là nhà đầu tư mới hay nhà đầu tư hiện hữu trong các khu công nghiệp mà Hepza quản lý.
Trong khi đó, các DN Trung Quốc, Đài Loan, Mỹ cũng đang tấp nập với các dự án đầu tư mới tại Việt Nam bằng việc mở rộng đầu tư nhà máy, dây chuyền sản xuất. Có không ít kỳ vọng gia tăng đơn hàng sẽ giúp DN da giày Việt Nam có thêm nhiều cơ hội kinh doanh. Nhưng thực tế hoàn toàn không phải vậy, trái lại nhiều dự đoán cho rằng, các DN trong nước đang đứng trước một cuộc chiến "sinh tử" ở ngưỡng cửa TPP.
Dịch chuyển về Việt Nam
DN ngành da giày FDI tiếp tục đổ về Việt Nam dù khối này đang chiếm hơn 80% thị phần của ngành trên tổng số 600 nhà máy đang có mặt tại Việt Nam.
Chia sẻ tại Hội nghị "Nâng cao hiệu quả kinh doanh của nhà máy giày dép" do Hiệp hội Da giày - Túi xách Việt Nam (Lefaso) và Hiệp hội Bán buôn - Bán lẻ giày dép Hoa Kỳ (FDRA) tổ chức giữa tháng 11/2014, ông Scott Thomas, đại diệp Hãng sản xuất giày dép Wolverine Worldwide (Mỹ), DN Mỹ đầu tiên đặt nhà máy tại Việt Nam vào năm 1994, cho biết, Wolverine Worldwide đang muốn chuyển hoạt động sản xuất ra khỏi Trung Quốc, thay vì tập trung 75% đơn hàng tại quốc gia này theo kế hoạch đến năm 2020.
Phần lớn đơn hàng dự kiến sẽ được chuyển sang Việt Nam. Lý do khiến Wolverine Worldwide đưa ra quyết định này là do Trung Quốc đang lạm phát cao, lương tối thiểu tăng mạnh, cũng như áp lực phải chi trả cho người lao động nghỉ hưu đang có chiều hướng tăng ngày càng cao.
Cũng đến từ Mỹ là Tập đoàn Ever Rite International, vào Việt Nam năm 1993, nhưng lại có quyết định nhanh hơn nhiều so với Wolverine Worldwide. Bởi lẽ, tính đến tháng 9/2013, Ever Rite International đã chuyển nhà máy sản xuất cuối cùng sang Việt Nam với 52 dây chuyền sản xuất giày dép.
7,44 tỷ USD

Tính đến đầu tháng 10/2014, tổng kim ngạch xuất khẩu giày dép của Việt Nam đạt 7,44 tỷ USD, chiếm 6,77% trong tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa các loại của cả nước, tăng 23,83% so với cùng kỳ năm 2013.
Theo đại diện của Ever Rite International, ông Oliver Ng, Việt Nam hội đủ nhiều yếu tố giúp Ever Rite International giảm thiểu được một số chi phí liên quan đến các vấn đề như: tỷ giá ổn định, lương tối thiểu thấp, dân số trẻ, nhưng năng suất lao động có thể so sánh với các nước trong khu vực.
Theo Lefaso, xu hướng chuyển dây chuyền sản xuất từ Trung Quốc vào Việt Nam đang gia tăng ngày một rõ nét, ước tính tỷ lệ dịch chuyển hiện nay là 25%, cao hơn cùng kỳ năm 2013. Riêng nửa đầu năm 2014, các thương hiệu như Nike, adidas, Puma đã chuyển lượng lớn đơn đặt hàng từ Trung Quốc và Bangladesh sang nhà máy của Việt Nam.
Không chỉ các thương hiệu lớn này, Tập đoàn Target Sourcing Services, một trong 10 nhà phân phối lớn nhất thế giới, và Tập đoàn Dansu cũng đã khảo sát và có ý định mở rộng, đầu tư vào Việt Nam.
Theo đó, giá nhân công và các chi phí về môi trường tại Trung Quốc đang được xem là một trong những lý do khiến nhiều thương hiệu lớn muốn di dời một số dây chuyền sản xuất sang các nước ở Khu vực Đông Nam Á, trong đó có Việt Nam.
Hai thương hiệu Timberland và Puma cũng đang quay lại với thị trường Việt Nam. Điển hình là Puma sẵn sàng chấp nhận giao hẳn đơn hàng cho nhà sản xuất mà không chỉ định nguồn nguyên liệu nếu DN đáp ứng được.
Tuy nhiên, theo ông Nguyễn Hoàng Phi Phụng, Phó trưởng Ban quản lý Khu công nghiệp - Khu chế xuất TP.HCM (Hepza), từ đầu năm đến nay, hầu như đơn vị chưa cấp mới cho bất kỳ nhà đầu tư ngành da giày nào, dù là nhà đầu tư mới hay nhà đầu tư hiện hữu trong các khu công nghiệp mà Hepza quản lý.
Ông Phụng cũng cho biết thêm, TP.HCM chỉ khuyến khích những DN trong ngành giày, may mặc nhưng chuyên về thiết kế mẫu, phát triển mẫu, chứ không khuyến khích các DN thâm dụng nhiều lao động.
Thực tế, Công ty TNHH Pouchen Việt Nam (Đài Loan), đang gia công cho khoảng hơn 20 các nhãn hàng giày lớn nhỏ trên thế giới trong đó có Adidas, Nike, Puma, Reebook..., vẫn chưa có dấu hiệu biến chuyển, gia tăng đơn hàng.
Theo ông Củ Nghiệp Phát, Chủ tịch Công đoàn Công ty TNHH Pouchen Việt Nam, Pouchen đang có 7 nhà máy đầu tư tại Việt Nam nhưng hiện vẫn chưa thấy có sự gia tăng đơn hàng của các nhãn lớn như adidas, Nike dù rằng năng lực sản xuất nhà máy vẫn có thể tăng thêm. Nhưng đến thời điểm này, điển hình là nhà máy Pouchen (Q.Bình Tân, TP.HCM) vẫn giữ mức sản xuất 5 triệu đôi/tháng.
Riêng DN trong nước, Đông Hưng Group vừa tái ký hợp đồng sản xuất cho Puma sau 2 năm "tạm dừng" vì lý do không chấp nhận chỉ định nhà cung ứng nguyên vật liệu.
Đến nay, khi Puma chấp nhận giao toàn bộ quyền lựa chọn nhà cung ứng nguyên liệu cho Đông Hưng Group thì việc hợp tác mới được tiếp tục. Theo đó, với việc sản xuất cho gần 15 nhãn hàng giày trên thế giới, Đông Hưng Group gia tăng được 30% đơn hàng so với thời điểm năm 2013.
Thế nhưng, ông Hà Duy Hưng, Chủ tịch HĐQT Đông Hưng Group, cho rằng: "Đơn hàng tăng chưa hẳn đã là tin vui. Vì thực tế ranh giới giữa lãi và lỗ trong ngành giày rất mong manh, chỉ cần chút sơ hở là hàng hóa rơi vào cảnh tái chế, phải vận chuyển bằng máy bay chi phí đội lên gấn 3 - 4 lần. Nếu DN không chuẩn bị tốt nội lực như phải biết tự thiết kế mẫu, hoặc có khả năng phát triển mẫu trên hình các hãng yêu cầu thì rất khó để tồn tại". Theo ông Hưng, thời gian qua có quá nhiều các DN giày da nội địa xuất khẩu "gãy gánh" khi sản xuất cho DN khối FDI, lý do cũng vì không có nội lực. Với Việt Nam, khi đàm phán TPP không chỉ có với da giày mà còn rất nhiều ngành khác khác, nếu không hội đủ các tiêu chuẩn thì sẽ rất là khó khăn. "Thực ra, cuộc chơi chỉ dành cho những DN lớn, còn những DN nhỏ sẽ rất khó tham gia!", ông Hưng phân tích.
Chen vào chuỗi liên hoàn của Nike và adidas
Dù là thị trường ngách với các sản phẩm giày thể thao, nhưng tỷ lệ xuất khẩu từ Việt Nam hằng năm lên đến hàng trăm triệu đôi. Một thị phần quá lớn nhưng các DN nội chỉ biết đứng nhìn.
Tính đến ngày 1/5/2014, có gần 80 nhà máy tại Việt Nam gia công cho adidas nhưng hơn 90% trong số này là các công ty Hàn Quốc, Đài Loan... Điển hình như Pou Yuen Co. Vietnam, PungKook Saigon III Co, Ltd... Hầu hết, các đơn vị gia công tập trung chủ yếu ở TP.HCM, Bình Dương, Đồng Nai, Tây Ninh.
Hiện adidas có hơn 1.200 nhà máy tại 65 quốc gia. Năm 2013, có 5 quốc gia và vùng lãnh thổ gia dẫn đầu về gia công cho adidas là: châu Mỹ (Mỹ, Brazil, Canada, Argentina và Mexico), châu Á (Trung Quốc, Việt Nam, Hàn Quốc, Nhật Bản và Indonesia) và EMEA (Anh, Đức, Ý, Thổ Nhĩ Kỳ và Tây Ban Nha).
Tại thị trường Việt Nam, tính đến tháng 11/2014, adidas có gần 100 cửa hàng trải khắp từ Bắc vào Nam, so với con số 30 của đối thủ Nike. Thế nhưng, mỗi năm có khoảng 75 triệu đôi giày của Nike được xuất khẩu từ Việt Nam. Nike vào Việt Nam năm 1995 và ký kết hợp đồng với các đối tác Hàn Quốc, Đài Loan để gia công sản phẩm với 10 nhà máy. Có hơn 75% lực lượng lao động của Nike đến từ châu Á.
Theo phân tích của Business Journal, trong năm 2013, các nhà máy gia công cho Nike ở Việt Nam chiếm 42% tỷ lệ giày dép của Nike trên toàn thế giới. Theo Lefaso, hiện đang có ba quốc gia sản xuất chính cho nhãn hàng Nike là Việt Nam, Trung Quốc và Indonesia với tỷ trọng lớn nhất thuộc về Việt Nam là 42%.
Trong 6 tháng năm 2014, các nhà sản xuất giày dép khổng lồ như Nike, adidas và Puma đã chuyển các đơn đặt hàng từ Trung Quốc và Bangladesh vào Việt Nam. Tỷ lệ dịch chuyển là 25%, cao hơn so với cùng kỳ năm ngoái. Đi cùng với các thương hiệu lớn này, Tập đoàn Target Sourcing Services và Tập đoàn Dansu Group cũng đã khảo sát, đang có ý định mở rộng đầu tư vào Việt Nam.
Tuy nhiên, như phân tích, dù đang có đơn hàng khổng lồ sản xuất tại thị trường Việt Nam nhưng cả Nike và adidas không tạo nhiều cơ hội cho các DN da giày của Việt Nam, chưa kể việc adidas liên tiếp báo lỗ trong nhiều năm. Vì vậy, việc dịch chuyển đơn hàng của hai thương hiệu này chưa thể là niềm vui đối với thị trường Việt Nam.
Theo Lefaso, lợi thế so sánh của Việt Nam hiện nay là cơ hội thu hút đơn hàng. Do đó, ngành da giày nên chủ động đón nhận cơ hội, xây dựng cơ sở hạ tầng để phát triển bền vững. Để được hưởng ưu đãi thuế quan từ TPP, ngành da giày phải đáp ứng yêu cầu về quy tắc xuất xứ với khoảng 40%-50% trị giá xuất xưởng của sản phẩm phải từ nội khối (các nước thành viên) TPP.
Theo ông Nguyễn Đức Thuấn, Chủ tịch Lefaso, hiện không chỉ các DN Việt Nam mà cả DN có vốn đầu tư nước ngoài cũng muốn sử dụng nguyên phụ liệu nội địa để được hưởng ưu đãi từ các FTA. Hiện tỷ lệ nội địa hóa của ngành da giày trên 55%, có những DN hơn 60% nhưng phần lớn là các chuỗi cung ứng của tập đoàn nước ngoài.
Vì thế, để phá chuỗi liên hoàn của các DN FDI, ngành công nghiệp da giày của Việt Nam phải nhanh chóng thay đổi về cơ sở hạ tầng và phát triển ngành nguyên phụ liệu. Đòi hỏi không mới nhưng vẫn luôn là cái đích trước mắt để thay đổi vận mệnh của ngành.
Thời hạn 5 năm
Tuy có kinh ngạch xuất khẩu da giày thuộc hàng Top của Việt Nam với 8,5 tỷ USD năm 2013, dự kiến sẽ tăng thêm 14% năm 2014, nhưng Việt Nam đang cách rất xa vị trí dẫn đầu của Trung Quốc ở thị trường quốc tế. Liệu rằng sự dịch chuyển đơn hàng của các DN FDI có là cơ hội lớn của DN Việt Nam?
Có không ít kỳ vọng gia tăng đơn hàng sẽ giúp DN da giày Việt Nam có thêm nhiều cơ hội kinh doanh. Nhưng thực tế hoàn toàn không phải vậy. Bởi vì, mấy năm trở lại đây, khi đầu tư ở Việt Nam, các DN nước ngoài thường tìm những đơn vị "chân rết" để cung ứng nguyên phụ liệu, nhưng sau đó đều tự cung tự cấp. Gần như là không có sự hiện diện của các DN Việt Nam trong chuỗi sản xuất của họ.
Theo ông Hà Duy Hưng, các DN Đài Loan, Hàn Quốc đều có sự đồng hành của các hiệp hội nước họ. Do đó, khi đầu tư tại một quốc gia nào, họ sẽ mang hết cụm DN đó sang.
Ví dụ, 10 DN làm giày thì sẽ có một DN dệt vải để cung cấp nguyên liệu, rồi DN làm đế, làm nút, làm dây giày... tạo thành một tổ hợp khép kín, nên DN Việt Nam muốn chen chân vào để mua nguyên liệu cũng rất khó, chứ chưa nói đến việc sẽ trở thành một trong những mắt xích của cụm tổ hợp sản xuất đó.
Còn với các DN nhỏ, cạnh tranh đang ngày càng là vấn đề lớn đối với các ngành thâm dụng lao động như da giày. Với các DN gia công xuất khẩu, tình trạng đơn hàng không đủ, vốn quay vòng không kịp nên khó khăn cứ thế mà kéo nhau đóng cửa. Về giải pháp, ông Hà Duy Hưng cho rằng, DN Việt Nam nên tránh chọn giải pháp cạnh tranh trực diện mà chia ra theo từng phân khúc.
Theo báo cáo của Lefaso, tỷ lệ nội địa hóa của ngành mới chỉ chiếm 40-45% (chủ yếu là đế giầy và chỉ khâu), trong khi nguyên liệu quan trọng nhất là da thuộc và da nhân tạo vẫn phải nhập khẩu. Việt Nam chỉ cung ứng được vải cho sản xuất loại giày vải cấp thấp, các chủng loại vải cao cấp đều phải nhập khẩu.
DN phải tự thiết kế, hoặc phát triển được mẫu thì mới biết được sản phẩm cần những nguyên liệu gì, nguyên liệu này bán ở đâu. Qua đó, dễ dàng hướng khách hàng lựa chọn những nguyên liệu ở Việt Nam. Ngược lại, sẽ bị chỉ định nguồn nguyên liệu và thông thường là nguyên liệu ở nước ngoài.
Theo đó, hãng đặt hàng sẽ biết được hết chi phí nên sẽ ép giá DN gia công. "Đây là kinh nghiệm mà Đông Hưng Group đã trải qua. Tuy nhiên, chúng tôi hiện nay đã chủ động hơn, nếu bị chỉ định nguyên liệu sẽ từ chối ngay. Sau này, kể cả trong hợp tác với các đối tác lớn như Puma, Clarks Đông Hưng cũng đưa ra tiêu chuẩn, tự tìm kiếm nhà cung ứng nguyên liệu, miễn sao đáp ứng được nhu cầu của đối tác", ông Hưng cho hay.
Về vấn đề này, ông Diệp Thành Kiệt, Phó chủ tịch Lefaso, nhận định "nếu không thể gia tăng giá trị và sản lượng ở phân khúc thiết kế, nghiên cứu tạo sản phẩm mới; tạo năng lực sản xuất; phân phối sản phẩm thì 5 năm nữa ngành sẽ không thể tăng trưởng được".
Thực tế, DN Việt Nam chủ động như Đông Hưng chỉ đếm trên đầu bàn tay. Các thương hiệu một thời của Việt Nam như Phú Lâm, Hiệp Hưng, An Lạc... chưa phục hồi trở lại. Tuy nhiên, ông Hưng vẫn ước mơ "chỉ cần khoảng 100 DN Việt Nam có doanh thu khoảng 100 triệu USD/năm thì bộ mặt của ngành công nghiệp da giày Việt Nam hoàn toàn khác".

Chia sẻ cầu chuyện về DN vàng nữ trang gặp năm hạn

Về phía DN, lãnh đạo một công ty sản xuất nữ trang lớn tại TP.HCM chia sẻ: "Về công nghệ sản xuất, ngành kim hoàn Việt Nam có thể sánh ngang với các nước trên thế giới nhưng thua về sự chuyên môn (quy mô nhỏ lẻ, phân tán). Nhưng điều khó khăn nhất là các chính sách vẫn chưa tạo điều kiện cho ngành phát triển, thậm chí còn quản rất chặt như xiết nguồn nguyên liệu, thắt chặt vốn vay ngân hàng".
Vàng Trung Quốc áp đảo
Từ đầu năm đến nay, nhiều DN kinh doanh vàng nữ trang ở TP.HCM được chào vàng Trung Quốc (TQ) với giá rẻ hơn 40.000 - 50.000 đ/lượng so với nhập chính ngạch.
Vàng được đóng thành thỏi với trọng lượng khoảng 1kg. Không chỉ giá rẻ, vàng TQ còn được thương nhân nước này mang đến tận các cửa hàng chào bán với hình thức rất linh hoạt: cho gối đầu, nếu bán không được có thể trả lại mà không mất tiền công cũng không phải trả tiền hao hụt vàng (nếu có)...
Không chỉ có vàng thỏi, vàng nữ trang TQ cũng được chào bàn khắp nơi kể từ đầu năm 2013 đến nay. Thậm chí, nhiều thương nhân còn đặt hàng gia công nữ trang từ TQ sau đó dập thương hiệu lên sản phẩm và "hô biến" thành vàng "made in Vietnam".
Theo ông Nguyễn Văn Dưng, Chủ tịch Hiệp hội Kim hoàn - Đá qúy TP.HCM (SJA), hiện TQ sản xuất hai dòng nữ trang, dòng cao cấp xuất sang châu Âu và sản phẩm thấp cấp tiêu thụ ở châu Á. Và dòng sản phẩm thấp cấp ngày càng xâm nhập sâu vào Việt Nam qua đường tiểu ngạch, nhập lậu.
Các chuyên gia vàng cho rằng, có nhiều lý do để vàng TQ "có đất sống" nhưng quan trọng là do nội lực DN trong nước còn yếu. Trong lĩnh vực kinh doanh vàng, các DN Việt Nam đa phần là DN nhỏ, không đủ điều kiện nhập khẩu vàng nguyên liệu nên phải mua vàng miếng của SJC hoặc nguồn vàng phân kim, vàng cũ tái chế, vàng không rõ nguồn gốc... để sản xuất nữ trang.
Mua vàng miếng SJC để sản xuất thì giá thành sản phẩm đội lên cao, khó cạnh tranh, vì thế, vàng TQ với giá rẻ cộng với sự linh hoạt trong thanh toán được tiêu thụ mạnh.
Ông Nguyễn Thành Long, Chủ tịch Hiệp hội Kinh doanh vàng Việt Nam (VGTA), cho biết, hiện vàng TQ chiếm đến 10% thị trường phía Nam và gần 20% thị trường phía Bắc. Bằng mắt thường, người tiêu dùng và cả những người kinh doanh không thể phân biệt được sự khác nhau giữa vàng TQ và vàng trong nước.
Theo thống kê của SJA, hiện có hơn 70% trong số 3.500 DN kinh doanh vàng nữ trang tại TP.HCM phải đóng cửa, tạm ngưng hoạt động.
Sự lấn át của vàng nhập khẩu từ các nước châu Á, đặt biệt là TQ sẽ còn tiếp tục tăng trong thời gian tới. Bởi, hiện tại, số lượng DN nước ngoài tìm cơ hội đầu tư vào Việt Nam đang ngày càng tăng. Ngay như tại Hội chợ quốc tế Trang sức Việt Nam (VIJF 2014) diễn ra đầu tháng 11, số lượng DN đến từ châu Á như Thái Lan, Hồng Kông, Đài Loan... tham gia với số lượng lớn.
Những DN này, ngoài giới thiệu sản phẩm, công nghệ sản xuất còn tích cực tìm kiếm đối tác bán hàng. "Trước sự xâm nhập của vàng ngoại cộng với việc không được vay vốn ngân hàng, không được nhập khẩu vàng nguyên liệu nên DN trong nước phải nhường thị phần cho trang sức nhập khẩu. Điều này đã khiến cho DN vàng trang sức, mỹ nghệ gặp bế tắc, thậm chí phải ngưng hoạt động", ông Dưng cho biết.
Theo thống kê của SJA, hiện có hơn 70% trong số 3.500 DN kinh doanh vàng nữ trang tại TP.HCM phải đóng cửa, tạm ngưng hoạt động.
Thêm rào cản thuế
Theo VGTA, thực hiện chủ trương của Chính phủ, các DN vàng bạc - đá quý Việt Nam đã và đang đầu tư mạnh mẽ vào sản xuất vàng trang sức, mỹ nghệ. Nhiều DN đã xây dựng nhà xưởng, đầu tư công nghệ và dây chuyền sản xuất hiện đại đồng thời với việc tuyển dụng thêm hàng ngàn lao động.
Đơn cử như PNJ đầu tư xí nghiệp nữ trang trên diện tích 12.500m2 với hơn 1.000 thợ kim hoàn, đạt công suất 4 triệu sản phẩm/năm. SJC cũng đã đưa vào hoạt động xí nghiệp nữ trang ở Tân Thuận với công suất lên đến 350.000 - 500.000 sản phẩm/năm...
Theo các chuyên gia vàng, Việt Nam có rất nhiều tiềm năng và lợi thế cạnh tranh về sản xuất vàng trang sức, mỹ nghệ xuất khẩu. Các sản phẩm vàng nữ trang của Việt Nam có hàm lượng 20k (83,33%), 22k (91,66%), thậm chí 24k... rất được ưa chuộng tại các thị trường Thổ Nhĩ Kỳ, Dubai, Trung Quốc...
Dù có nhiều tiềm năng và cũng đã đầu tư đáng kể để chuẩn bị cho xuất khẩu nhưng hướng ra này cũng gặp khó vì thuế suất. Cụ thể, vàng nữ trang xuất khẩu của các nước Trung Quốc, Thái Lan, Indonesia, Ấn Độ... được áp mức thuế 0% thì Việt Nam đang đề nghị áp thuế 2%.
Đó là chưa kể DN những nước này được nhập khẩu vàng nguyên liệu, chi phí nhân công rẻ hơn, thiết bị và công nghệ sản xuất hiện đại hơn, đồng thời được hưởng chính sách ổn định để khuyến khích phát triển thị trường vàng bạc - đá quý.
Ông Long cho rằng, nếu áp với mức thuế này, các DN vàng bạc - đá quý Việt Nam sẽ không thể xuất khẩu được mặt hàng vàng trang sức, mỹ nghệ trong thời gian tới.
Về phía DN, lãnh đạo một công ty sản xuất nữ trang lớn tại TP.HCM chia sẻ: "Về công nghệ sản xuất, ngành kim hoàn Việt Nam có thể sánh ngang với các nước trên thế giới nhưng thua về sự chuyên môn (quy mô nhỏ lẻ, phân tán). Nhưng điều khó khăn nhất là các chính sách vẫn chưa tạo điều kiện cho ngành phát triển, thậm chí còn quản rất chặt như xiết nguồn nguyên liệu, thắt chặt vốn vay ngân hàng".
Theo VGTA, việc xuất khẩu vàng trang sức, mỹ nghệ là xuất khẩu giá trị lao động và tái tạo ngoại tệ từ nguồn nguyên liệu, máy móc, công nghệ nhập khẩu nên cần được khuyến khích để tạo việc làm hàng vạn lao động ở các làng nghề.
Hơn nữa, khi Hiệp định Đối tác Kinh tế chiến lược xuyên Thái Bình Dương (TPP) được ký kết thì ngành vàng bạc - đá quý Việt Nam sẽ còn chịu áp lực cạnh tranh khốc liệt hơn nữa.
Do vậy, VGTA đã đề nghị Bộ Tài chính giữ thuế suất xuất khẩu 0% để tạo điều kiện thuận lợi cho các DN vượt qua khó khăn trước mắt, đồng thời góp phần củng cố lòng tin vào sự ổn định của chính sách để họ yên tâm phát triển sản xuất, kinh doanh, xuất khẩu.

Chia sẻ vấn đề về công ty Nhật: Kim chỉ nam hướng ASEAN

Với kế hoạch quản lý trung hạn năm 2015 làm kim chỉ nam, Tập đoàn Hitachi đang nhanh chóng mở rộng nhóm kinh doanh vì sự tiến bộ của xã hội trên phạm vi toàn cầu. Với ngành kinh doanh này, Hitachi đặt mục tiêu giải quyết những vấn đề của xã hội thông qua việc vận dụng chuyên môn của mình trong cả hai yếu tố là hạ tầng xã hội và công nghệ thông tin.
Các quốc gia ASEAN đã và đang được đánh giá là nơi sản xuất lý tưởng và một thị trường rộng lớn. Do đó, ASEAN đã trở thành một khu vực cực kỳ quan trọng đối với tập đoàn Hitachi cũng như các tập đoàn lớn của Nhật Bản.
Doanh thu của Hitachi tại châu Á trong đó có các quốc gia ASEAN trong năm tài khóa 2013 đạt khoảng 989,9 tỷ yên (9,15 tỷ USD) và Tập đoàn đang có kế hoạch nâng con số này lên tầm 30%, tương đương 1,29 ngàn tỷ yên (11,9 tỷ USD) trong năm tài khóa 2015.
Cho đến nay, Hitachi đã triển khai nhiều nhóm ngành kinh doanh trong khu vực bao gồm các hệ thống hạ tầng cơ sở, vật liệu và cấu kiện chức năng cao, máy xây dựng, phụ tùng ô tô và thiết bị gia dụng.
Với kế hoạch quản lý trung hạn năm 2015 làm kim chỉ nam, Tập đoàn Hitachi đang nhanh chóng mở rộng nhóm kinh doanh vì sự tiến bộ của xã hội trên phạm vi toàn cầu. Với ngành kinh doanh này, Hitachi đặt mục tiêu giải quyết những vấn đề của xã hội thông qua việc vận dụng chuyên môn của mình trong cả hai yếu tố là hạ tầng xã hội và công nghệ thông tin.
Trong tương lai, Hitachi sẽ mở rộng kinh doanh tập trung vào hai mảng chính là công nghệ thông tin và viễn thông với trọng tâm cung cấp các giải pháp tài chính và hệ thống đường sắt. Tại các quốc gia ASEAN, Hitachi đang có kế hoạch thành lập một nhánh riêng chuyên tập trung vào các hệ thống này tại Hitachi châu Á trong tháng 4/2015.
Trong chiến lược thị trường cho từng quốc gia ASEAN, Hitachi xác định: Singapore có lợi thế rất nhiều về mặt địa lý khi đóng vai trò là trung tâm và cửa ngõ đối với các quốc gia ASEAN khác.
Sự kiện Innovation Forum 2014 tổ chức tại Singapore trong hai ngày 18 và 19/11 với chủ đề: "Đổi mới xã hội - tương lai của chúng ta: Tăng cường sức mạnh cho doanh nghiệp và xã hội bằng thông tin", được cho là cam kết của Hitachi với việc thúc đẩy tăng trưởng trong khu vực ASEAN.
Hitachi Châu Á chịu trách nhiệm triển khai kinh doanh cùng với Ủy ban Phát triển Kinh tế Singapore (EDB) và các cơ quan nhà nước khác. Hitachi Châu Á cũng đóng vai trò là nền tảng triển khai các công nghệ độc đáo và phát triển kinh doanh tại các quốc gia láng giềng.
Thái Lan có phạm vi hoạt động rộng nhất với các cơ hội kinh doanh lớn trong lĩnh vực hệ thống truyền tải và phân phối điện cũng như hệ thống đường sắt. Hitachi hiện đang sử dụng nhà máy chủ chốt ở Thái Lan để mở rộng mảng kinh doanh thang máy và thang cuốn cho các thị trường Ấn Độ và Trung Đông.
Hitachi cũng tin rằng Thái Lan là một trung tâm quan trọng của khu vực trong việc phát triển lĩnh vực hậu cần và các mạng lưới cung ứng trong khu vực sông Mekong mở rộng.
Indonesia là thị trường tiềm năng nhất trong số các quốc gia ASEAN, và đang triển khai rất nhiều hoạt động đầu tư trong các lĩnh vực cơ sở hạ tầng bao gồm hệ thống truyền tải và phân phối điện, đường sắt và công nghệ thông tin.
Hitachi sẽ cung cấp biến áp cách điện bằng khí (GIS) cho các thị trường ASEAN và dự định tham gia các dự án xe điện ngầm và tàu điện ngầm (MRT) hiện đang trong giai đoạn lập kế hoạch ở Jakarta.
Việt Nam được mong đợi sẽ đầu tư các mảng cơ sở hạ tầng như T&D, đường sắt, quy hoạch và phát triển đô thị. Năm 2013, Hitachi đã trúng gói thầu tuyến đường sắt đô thị số 1 của TP.HCM, và sẽ mở rộng nhóm ngành kinh doanh này nhằm hướng tới các tuyến đường sắt khác.
Mục tiêu của Hitachi là thắng được những gói thầu trong các dự án hạ tầng cơ sở quy mô lớn có sử dụng nguồn viện trợ ODA. Đến nay, Hitachi Việt Nam có 7 công ty và 587 lao động bao gồm cả lĩnh vực kinh doanh và sản xuất.
Philippines có tỷ lệ tăng trưởng GDP thực tế cao thứ hai tại châu Á và Hitachi đang mở rộng kinh doanh ở đây bao gồm cơ sở hạ tầng xã hội, quy hoạch và phát triển đô thị, thiết bị gia dụng. Malaysia được kỳ vọng sẽ tăng trưởng đáng kể trong một số thị trường như dầu khí, công nghệ thông tin, đường sắt và tài chính.

Tham vọng lớn, thách thức không nhỏ của tập đoàn Viettel

Có thể nói, đầu tư ra nước ngoài của Viettel ngày càng khó, khi tài nguyên viễn thông có xu hướng cạn dần, việc mua lại giấy phép trở nên rất khó khăn. Sức cạnh tranh ngày càng gay gắt, doanh thu bình quân trên mỗi thuê bao (ARPU) giảm. Viettel đang phải cạnh tranh với nhiều nhà mạng viễn thông nổi tiếng thế giới như Orange, Vodafone, Telefonica, SingTel… với doanh thu và kinh nghiệm hơn Viettel nhiều lần.
Nếu như cả năm 2013, hoạt động đầu tư ra nước ngoài của Viettel dường như không đạt kết quả như kỳ vọng, khi việc thâm nhập một loạt thị trường nước ngoài chưa thành hiện thực, chỉ có Tanzania, Burundi ở châu Phi được cấp giấy phép, thì năm 2014 tình hình ít nhiều đã có khởi sắc hơn.
Ngày 15/10/2014, Viettel đánh dấu sự mở rộng thị trường của mình ra nước ngoài bằng việc khai trương dịch vụ di động với thương hiệu Bitel tại thị trường Peru. Như vậy, đến thời điểm hiện tại, Viettel đã chính thức cung cấp dịch vụ tại 7 quốc gia là Lào, Campuchia, Haiti, Mozambique, Đông Timor, Peru và Cameroon. Hai thị trường châu Phi khác là Tanzania và Burundi đã được cấp giấy phép và đang trong giai đoạn xây dựng hạ tầng.
Theo các hãng tin quốc tế, riêng tại Tanzania (nền kinh tế lớn thứ 2 Đông Phi với 29 triệu thuê bao di động đang hoạt động), sau khi có giấy phép, Viettel dự kiến đầu tư 1 tỷ USD vào mạng 3G. Còn tại Burundi (quốc gia có hơn 10 triệu dân, nhưng mới chỉ có khoảng 10% dân số sử dụng dịch vụ di động), thì Viettel đang xúc tiến thành lập Công ty Viettel Burundi và triển khai mạng lưới để kinh doanh.
Ngoài ra, mới đây, đại diện Tổng công ty cổ phần Đầu tư Quốc tế Viettel (Viettel Global), đơn vị phụ trách các hoạt động đầu tư ra nước ngoài của Viettel đã cho biết, gần như 100% cổ đông đã thông qua chủ trương đầu tư vào hai nước châu Phi khác là Congo và Kenya.
Tại Kenya, Viettel cũng đã chi 118,8 triệu USD để mua lại 70% cổ phần của Hãng viễn thông Telkom Kenya. Bên cạnh đó, Viettel cũng đã thành lập công ty viễn thông mang tên Viettel Congo DR để điều hành và quản lý các khoản đầu tư tại Congo. Hiện tại, chưa rõ liệu Viettel sẽ tìm cách thâu tóm một nhà mạng hiện có của Congo hay sẽ tự đầu tư mới.
Đó là chưa kể việc Viettel đang tìm kiếm cơ hội, xúc tiến đầu tư vào một loạt nước khác như Belarus, Cameroon, Burkina Faso…
Ông Nguyễn Mạnh Hùng - Tổng giám đốc Viettel cho biết, Viettel đang xây dựng chiến lược trở thành công ty toàn cầu. “Tại các thị trường nước ngoài mà Viettel đầu tư, Viettel luôn phải là một trong 3 công ty lớn nhất ở thị trường đó. Viettel cũng đang đặt mục tiêu đầu tư ở 25 nước khác nhau, trong đó có một thị trường nước ngoài có 600 đến 800 triệu dân vào năm 2020 và lọt vào top 10 doanh nghiệp viễn thông lớn nhất thế giới”, ông Hùng nhấn mạnh.
Có thể nói, đầu tư ra nước ngoài của Viettel ngày càng khó, khi tài nguyên viễn thông có xu hướng cạn dần, việc mua lại giấy phép trở nên rất khó khăn. Sức cạnh tranh ngày càng gay gắt, doanh thu bình quân trên mỗi thuê bao (ARPU) giảm. Viettel đang phải cạnh tranh với nhiều nhà mạng viễn thông nổi tiếng thế giới như Orange, Vodafone, Telefonica, SingTel… với doanh thu và kinh nghiệm hơn Viettel nhiều lần.
Điển hình cho những khó khăn này là việc Viettel không trúng thầu tại thị trường Myanmar. Bên cạnh đó, Viettel chưa trả hết nợ tại 50% thị trường có đầu tư, chưa thu hồi được vốn; số tiền lãi chuyển về nước hiện không lớn, một số thị trường có lợi nhuận thấp… Đến thời điểm hiện tại, do mới đầu tư được 1-2 năm, nên Viettel cũng chỉ mới hoạt động có lãi tại 4 trong số 7 thị trường đang vận hành.
Con số mới nhất từ Viettel Global cho thấy, doanh thu thuần trong 9 tháng đầu năm của Viettel Global đạt hơn 10.100 tỷ đồng, tăng 2.200 tỷ đồng (28%) so với cùng kỳ năm 2013; lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh đạt 1.470 tỷ đồng, tăng gần 400 tỷ đồng so với cùng kỳ năm 2013.
Tính đến ngày 30/9/2014, tổng tài sản và vốn chủ sở hữu của Viettel Global đạt tương ứng là 31.700 tỷ đồng và 15.600 tỷ đồng. Cuối năm 2013, Viettel đã tăng gấp đôi vốn điều lệ của Viettel Global từ 6.219 tỷ đồng lên 12.438 tỷ đồng.
Việc Viettel tăng vốn điều lệ, tăng vốn đầu tư và đẩy mạnh tìm kiếm thị trường nước ngoài đang cho thấy quyết tâm của Viettel trong việc khai phá thị trường nước ngoài. Những nước mà Viettel nhắm tới cũng không chỉ là các nước đang phát triển, mà có cả các nước phát triển. Như vậy, đồng nghĩa với việc Viettel sẽ đối mặt với cả vấn đề giải quyết bài toán kinh doanh hiệu quả tại các nước đang triển khai đầu tư và cả cạnh tranh giành giấy phép ở các thị trường mới. Liệu Viettel có vượt qua thách thức hay không, câu trả lời vẫn còn ở phía trước.

Câu chuyện về Bánh kẹo Kinh Đô và - "đường dài" của đại gia ngoại

Kết quả là sau 5 ngày ra mắt, mì Kido đã có mặt ở hơn 86.000 điểm bán lẻ trên toàn quốc. Với những thắng lợi bước đầu này, ông Trần Quốc Việt, Phó tổng giám đốc Công ty Kinh Đô cho rằng, việc xác định chỗ đứng trên thị trường của mì Kido sau một năm là hoàn toàn khả thi.
Dự kiến, đến quý II/2015, thương vụ này sẽ hoàn tất và như vậy, ngành bánh kẹo Việt Nam gần như rơi vào tay đối thủ ngoại khi hai thương hiệu đứng đầu thị trường là Kinh Đô và Bibica đều do cổ đông nước ngoài chi phối.
Kinh Đô làm gì với 370 triệu USD? 
Với sự thống nhất từ các cổ đông, 80% cổ phần của mảng kinh doanh bánh kẹo của Kinh Đô sẽ được bán cho đối tác Mỹ là Tập đoàn Mondelez International. Thương vụ này có giá 7.846 tỷ đồng (370 triệu USD).
Chia sẻ lý do bán cổ phần cho nhà đầu tư ngoại khi Công ty vẫn tăng trưởng, ông Trần Kim Thành, Chủ tịch HĐQT Công ty CP Kinh Đô, cho biết, dù đang dẫn đầu thị trường bánh kẹo trong nước nhưng ngành hàng này không còn nhiều cơ hội phát triển như những năm đầu. Chính vì vậy, Kinh Đô đang tìm kiếm cơ hội đầu tư vào các ngành khác như cà phê, mì gói, dầu ăn...
"Chúng tôi nhắm đến thị trường 180.000 tỷ đồng của ngành thực phẩm thiết yếu đóng gói chứ không chỉ là thị trường bánh kẹo với 15.000 tỷ đồng. Mặc dù đứng đầu thị trường với 30% thị phần nhưng tăng trưởng của ngành này đang chững lại trong thời gian qua. Nếu tiếp tục theo đuổi ngành bánh kẹo, Kinh Đô vẫn có thể duy trì tốc độ tăng trưởng nhưng chỉ ở mức thấp, khoảng 5 - 10%/năm", ông Thành nói.
Phân tích rõ hơn vấn đề này, ông Trần Lệ Nguyên, Tổng giám đốc Công ty CP Kinh Đô, cho biết, từ năm 2008 đến nay, khi khủng hoảng kinh tế diễn ra, tốc độ tăng trưởng của ngành chậm hẳn lại.
Trong nước, dòng vốn trên thị trường khựng lại, doanh nghiệp (DN) khó đẩy nhanh sản xuất, người tiêu dùng cắt giảm chi tiêu và hướng đến các mặt hàng thiếu yếu khiến nhà sản xuất bánh kẹo thêm khó khăn. Năm 2011, doanh thu của Kinh Đô tăng 15 - 20% so với năm 2010. Đến năm 2012, doanh thu chỉ bằng năm 2011.
Trước thực tế đó, 3 năm qua, Công ty đã tái cơ cấu các danh mục sản phẩm, khai thác tối đa lợi thế quy mô, năng lực quản trị để kiểm soát chi phí. Thế nhưng, năm 2013, tăng trưởng doanh thu của Kinh Đô cũng chưa đạt mức 10%.
Thông tin từ phía Kinh Đô cho thấy, việc bán cổ phần cho Mondelez International nằm trong chiến lược tái cấu trúc hoạt động Công ty. Và việc phát triển sản phẩm thực phẩm thiết yếu đã được hiện thực hóa bằng sự ra mắt của mì Đại Gia Đình thương hiệu Kido cách đây hơn 1 tuần.
Kết quả là sau 5 ngày ra mắt, mì Kido đã có mặt ở hơn 86.000 điểm bán lẻ trên toàn quốc. Với những thắng lợi bước đầu này, ông Trần Quốc Việt, Phó tổng giám đốc Công ty Kinh Đô cho rằng, việc xác định chỗ đứng trên thị trường của mì Kido sau một năm là hoàn toàn khả thi.
Được biết, số tiền thu về từ hợp tác với Mondelez International trong lĩnh vực bánh kẹo với lượng tiền có sẵn, lượng tiền mặt của Kinh Đô lên đến gần 10.000 tỷ đồng. Dự kiến Kinh Đô sẽ đầu tư vào mì gói 325 tỷ đồng, Vocarimex khoảng 700 tỷ đồng, kem Kido 300 tỷ đồng.
Số tiền còn lại sẽ đầu tư vào các danh mục dự án đang thương thảo (hình thức đầu tư vào các dự án này cũng giống như Kinh Đô đã đầu tư vào Vocarimex).
Bước đi khôn ngoan của "ông lớn"
Ngược lại với Kinh Đô, ông Tim Cofer, Phó chủ tịch cấp cao của Mondelez International - DN mua 80% cổ phần bánh kẹo của Kinh Đô, khẳng định: "Khoản đầu tư quan trọng của chúng tôi vào Kinh Đô và Việt Nam hoàn toàn phù hợp với chiến lược phát triển kinh doanh tại châu Á cũng như tăng trưởng mảng kinh doanh thức ăn nhẹ cốt lõi tại thị trường đang phát triển năng động này".
Việc lựa chọn mua cổ phần của Kinh Đô là bước đi khôn ngoan của Mondelez International khi nhà đầu tư này tính đến đường dài. Bởi theo báo cáo thị trường thực phẩm và đồ uống của Business Moniter International (BMI), trong giai đoạn 2010 - 2014, ngành bán kẹo Việt Nam có mức tăng trưởng từ 8- 10%.
Riêng tăng trưởng doanh thu ngành bánh kẹo đến quý II/2014 đạt 10,7%. Về dài hạn, triển vọng cho thị trường bánh kẹo Việt Nam là rất tích cực. Các yếu tố như mức tăng thu nhập, tỷ lệ nhân khẩu ở độ tuổi lao động trên 51% và tiêu thụ bánh kẹo sẽ tăng mạnh trong tương lai.
Chưa dừng lại ở 80% cổ phần nhóm hàng bánh kẹo, Mondelez International còn đặt tham vọng cao hơn. Sau khi thương vụ hoàn tất vào quý II/2015, nhà đầu tư này sẽ tiếp tục đàm phán để sở hữu luôn 20% còn lại của Kinh Đô. Điều này cũng được ông Trần Quốc Việt xác nhận tại đại hội cổ đông bất thường ngày 1/12.
Theo ông Việt, 20% còn lại sẽ được bán cho Mondelez International sau một năm khi hai bên đã hoàn tất giao dịch trước đó và phía đối tác tuân thủ những cam kết về việc đưa thương hiệu Kinh Đô ra nước ngoài.
Với sự tham gia của Mondelez International, thị trường bánh kẹo Việt Nam sẽ thuộc về nước ngoài và mức độ cạnh tranh sẽ ngày càng khốc liệt hơn. Bởi, Mondelez International là tập đoàn thức ăn nhẹ lớn nhất thế giới với doanh thu thuần lên đến 35 tỷ USD trong năm 2013.
Sản phẩm của Mondelez International có mặt tại 165 nước và dẫn đầu trong lĩnh vực bánh kẹo, chocolate với các thương hiệu Oreo, Ritz, Chocolate Cadbury... Tại Việt Nam, các loại bánh quy Oreo, Ritz... được khá nhiều người tiêu dùng biết đến.
Trong khi các DN trong nước như Kinh Đô, Bibica, Hải Hà... có mức tăng trưởng chỉ 8-10% thì tăng trưởng của các DN ngoại lên đến vài chục phần trăm. Cụ thể, năm 2013, doanh thu của Kinh Đô, Bibica, Hải Hà, Hữu Nghị có tỷ lệ tăng trưởng lần lượt là 8,4%, 12,4%, 13,8% và 8,2% thì Orion Vina lên tới 31,7%.
Với lợi thế của một thương hiệu lớn, mảng kinh doanh bánh kẹo chắc chắn sẽ được Mondelez International khai thác triệt để. Và khi hai thương hiệu Kinh Đô và Bibica đã do nước ngoài chi phối thì DN trong nước chỉ còn những thương hiệu nhỏ như Hữu Nghị, Hải Hà...
Chắc chắn, trong thời gian tới, sẽ còn nữa những cái tên thuộc về nhà đầu tư nước ngoài. Bởi lẽ, đây là ngành cạnh tranh khá khắc nghiệt nhưng có tỷ suất sinh lời tốt. Và việc các nhà đầu tư nước ngoài với tiềm lực tài chính lớn thâu tóm, thậm chí đẩy DN Việt Nam vào khó khăn để kiếm cơ hội phát triển ngày càng diễn ra mạnh hơn.