Thứ Tư, 7 tháng 12, 2016

Thú vị với sự kiện: Big C kích hoạt "cuộc chiến" giá rẻ

Theo các chuyên gia thị trường, động thái của Big C sẽ châm ngòi cho một "cuộc chiến" giá rẻ mới trong thời gian tới. Trên thực tế, dù không công khai nhưng vài năm qua, các siêu thị đều xác định là thương hiệu có giá tốt trên thị trường. Nếu như Big C xác định "Giá rẻ cho mọi nhà”, thì Co.opmart đưa ra chính xách "Bạn của mọi nhà”... cùng những "cơn mưa khuyến mãi".
Ngày 14/11, hệ thống siêu thị Big C bắt đầu áp dụng chương trình "Cam kết giá” cho các mặt hàng tiêu dùng nhanh và không có thời gian kết thúc. Cụ thể, Big C công bố mức giá sản phẩm tiêu dùng nhanh của mình là thấp nhất so với giá bán tại các siêu thị khác nằm trong phạm vi bán kính 7km.
Big C cam kết sẽ tặng sản phẩm nếu khách hàng tìm thấy sản phẩm tương đương tại các siêu thị khác có mức giá rẻ hơn so với giá bán tại siêu thị Big C. Theo chương trình mà Big C đưa ra thì có khoảng 8.000 - 10.000 sản phẩm hằng ngày nằm trong diện cam kết giá, chiếm khoảng 80% về số lượng và gần 70% về giá trị trong nhóm mặt hàng tiêu dùng nhanh.
Chưa biết, tất cả những mặt hàng tiêu dùng nhanh mà Big C công bố có thấp nhất trong kênh bán hàng siêu thị hay không nhưng trên thực tế, một số mặt hàng mà chúng tôi khảo sát trong ngày 16/11 thì Big C có giá bán thấp hơn.
Chẳng hạn, sữa Cô gái Hà Lan 180ml tại Big C Hoàng Văn Thụ có giá 26.500 lốc/4 hộp thì tại Co.opmart Lũy Bán Bích là 28.500 đ/lốc và tại Vinatexmart Bàu Cát là 27.000 đồng. Tương tự, dầu ăn Cooking Tường An 1 lít niêm yết tại Big C là 37.500 đ/bình, tại Co.opmart là 41.800đ, tại Vinatexmart là 40.600đ. Mì Hảo Hảo 75g tại Big C và Co.opmart đồng giá 3.400 đ/gói thì tại Vinatexmart là 3.600 đ/gói...
Để có giá tốt nhất, ông James Scott, Tổng giám đốc hệ thống siêu thị Big C, cho rằng, việc kiểm soát giá được đơn vị này thực hiện thường xuyên. Mỗi tuần, có hơn 2.000 mặt hàng tiêu dùng nhanh được theo dõi, kiểm soát giá kỹ càng, để đảm bảo người tiêu dùng được mua những mặt hàng tiêu dùng nhanh tại Big C với giá thấp nhất.
"Chương trình này chắc chắn sẽ tạo đột phá lớn trên thị trường bán lẻ vì Big C là đơn vị đầu tiên cho phép khách hàng kiểm chứng cam kết của mình và tự tin trong công tác kiểm soát giá cả. Việc này cũng đồng nghĩa với việc chúng tôi phải chủ động và nỗ lực nhiều hơn nữa để có giá tốt mỗi ngày và đảm bảo rằng khách hàng luôn có thêm nhiều trải nghiệm mua sắm thú vị khi đến với Big C", ông James Scott khẳng định.
Theo các chuyên gia thị trường, động thái của Big C sẽ châm ngòi cho một "cuộc chiến" giá rẻ mới trong thời gian tới. Trên thực tế, dù không công khai nhưng vài năm qua, các siêu thị đều xác định là thương hiệu có giá tốt trên thị trường. Nếu như Big C xác định "Giá rẻ cho mọi nhà”, thì Co.opmart đưa ra chính xách "Bạn của mọi nhà”... cùng những "cơn mưa khuyến mãi".
Nếu Big C triển khai khuyến mãi giảm giá hằng ngày, hằng tuần thì Co.opmart cũng xem đây là chiến lược cạnh tranh của mình và mỗi năm, đơn vị này thực hiện cả chục chương trình khuyến mãi với kinh phí hàng tỷ đồng. Mới đây nhất là chương trình "Tự hào hàng Việt" với kinh phí thực hiện lên đến 200 tỷ đồng với sự tham giá của 600 nhà cùng cấp.
Chương trình được triển khai tại 71 siêu thị Co.opmart, 82 cửa hàng C.op Food và Co.opXtra với hàng ngàn mặt hàng giảm giá đến 50%. Hiện tại, Co.opmart đang khuyến mãi giảm giá đến 50% cho 3.500 mặt hàng thiết yếu cùng nhiều quà tặng hấp dẫn.
Và không chỉ có Big C, Co.opmart mà cả những thương hiệu khác như Maximark, Vinatexmart, Satra Mart... cũng thường xuyên tổ chức khuyến mãi, giảm giá bán. Và tất cả những chương trình này được thực hiện với mục đích hướng đến ngôi vị "giá thấp nhất".
"Tuy nhiên, vấn đề là Big C có đủ mọi điều kiện để thực hiện việc này lâu dài hay không là một chuyện khác", ông Nguyễn Trung Thẳng, Chủ tịch Masso Group đánh giá. Phân tích kỹ hơn vấn đề này, ông Thẳng cho rằng, cách Big C áp dụng cũng giống như Wal-Mart đã thực hiện và đã thành công.
Với tiềm lực của một tập đoàn bán lẻ lớn, có thể Big C đáp ứng được điều kiện về tài chính nhưng muốn thành công còn đòi hỏi doanh nghiệp có hệ thống phân phối rộng khắp cả nước.
Wal-Mart với chính sách "mỗi ngày một sản phẩm giá tốt nhất thế giới" đã tạo ra những làn sóng săn hàng giá rẻ của người tiêu dùng. Wal-Mart làm được điều này nhờ quy mô lớn với sức mua lớn. Còn Big C thì phải chờ vì xét về quy mô, tại Việt Nam, Big C mới có 29 siêu thị.
Nói về vấn đến này, ông Phạm Việt Anh, Chủ tịch Hội đồng thành viên Công ty Ý tưởng Thương hiệu và Thiết kế Left Brain Connectors, cho rằng, chiến lược mà Big C áp dụng cho người tiêu dùng, sẽ kéo được khách đến với siêu thị nhưng sẽ... gây khổ cho nhà cung cấp.
Bài học thực tế từ Wal-Mart đã cho thấy, để có giá tốt nhất thị trường, Wal-Mart đã ép nhà cung cấp bằng giá rẻ, giảm phúc lợi nhân viên... và họ phải đối mặt với những vấn đề này khi định hình thương hiệu "Giá tốt nhất".

Giới thiệu với bạn chiến lược kinh doanh của người Thái

Một cách tiếp cận người tiêu dùng và thị trường phổ biến của người Thái là tổ chức các buổi hội chợ hay triển lãm. Cụ thể, hàng năm Cục Xúc tiến Thương mại, Bộ Thương mại Thái Lan - Văn phòng Thương vụ Thái tại TP.HCM đã tổ chức các Tuần lễ Thái Lan liên tục trong suốt 13 năm qua. Thậm chí, gần đây Cung Văn hóa Lao động cũng thường xuyên trở thành điểm bán hàng do các doanh nghiệp nhập khẩu hàng Thái tổ chức.
Không dừng lại với thị trường 60 triệu dân Thái, doanh nghiệp Thái Lan hiện đang muốn mở rộng sang thị trường Việt Nam để hiện thực hoá tham vọng của mình.

Hơn 3 tháng trước, Tập đoàn Berli Jucker (BJC) của tỉ phú Charoen Sirivadhanabhakdi, người giàu thứ 3 tại Thái Lan, đã mua lại hệ thống bán lẻ Metro Cash & Carry Việt Nam. Tuần qua, Wall Street Journal lại đưa tin, ThaiBev, một công ty khác của vị tỉ phú này, đang muốn trở thành cổ đông chiến lược của Tổng Công ty Bia rượu nước Giải khát Sài Gòn (Sabeco).
Trước thương vụ thâu tóm Metro Việt Nam, Tập đoàn BJC của ông chủ này đã nhảy vào mua lại cổ phần của đối tác Nhật trong liên doanh Family Mart tại Việt Nam và sau đó đổi tên thành B’mart.
Tương tự, trong khoảng thời gian trên, F&N Dairy Investment, một công ty thực phẩm có trụ sở tại Singapore do Thai Beverage (một công ty khác cũng thuộc quyền kiểm soát của ông Charoen) chi phối, cũng đã mua lại hơn 10% cổ phần của Công ty Cổ phần Sữa Vinamilk. Không xuất hiện trước truyền thông, nhưng với những vụ đầu tư liên tục, dường như vị tỉ phú này đang muốn chuyển trọng tâm chiến lược kinh doanh sang thị trường Việt Nam.
Tuy nhiên, doanh nhân Charoen không phải là trường hợp đơn lẻ. Hàng loạt doanh nghiệp Thái khác như SCG, Central Group, C.P. đã và đang âm thầm mở rộng hoặc tiến vào thị trường Việt Nam, bằng cách này hoặc cách khác.
Tiềm năng thị trường Việt
“Nhiều doanh nghiệp Thái đang rất quan tâm đến thị trường Việt Nam. Hiện chúng tôi có một vài thương vụ đang trong quá trình đàm phán và có thể kết thúc trong thời gian ngắn sắp tới”, ông Nguyễn Nam Sơn, Giám đốc Điều hành Quỹ Đầu tư Vietnam Capital Partners, cho biết.
Vietnam Capital Partners từng tư vấn thành công nhiều vụ M&A của các doanh nghiệp Thái Lan tại thị trường Việt Nam. Điển hình nhất chính là thương vụ Công ty The Nawaplastic Industries mua lại 20% cổ phần của Nhựa Bình Minh và 23% cổ phần Công ty Nhựa Tiền Phong vào năm 2012.
Trong khi đóng vai trò là một nhà tư vấn chiến lược kinh doanh và từng có dịp tiếp xúc với rất nhiều doanh nhân Thái Lan, ông Robert Trần, Tổng Giám đốc khu vực châu Á của Tập đoàn Tư vấn chiến lược Robeny (Canada), cho biết khủng hoảng kinh tế cũng như chính trị trong nhiều năm gần đây đã khiến nhiều doanh nghiệp Thái Lan muốn mở rộng ra nước ngoài để tăng thị phần, bù đắp sự thiếu hụt từ thị trường nội địa. Để thực hiện chiến lược này, họ nhắm đến những nước gần nhất và Việt Nam là một trong số đó.
“Cách đây 3 năm trong những cuộc nói chuyện với các doanh nhân người Thái, tôi đã thấy rằng, thị trường họ nhìn thấy không phải chỉ dừng ở 60 triệu dân Thái, mà phải cộng thêm 90 triệu dân của Việt Nam”, ông Robert Trần kể lại.
Theo ông Robert, chiến lược này của các doanh nhân Thái cũng không có gì khó hiểu. Bởi nhận xét một cách công bằng, văn hóa Thái có những nét tương đồng, nhưng hàng hóa của họ lại tốt hơn hàng Việt Nam. Do đó, thị trường rộng lớn tại Việt Nam là điều mà người Thái hoàn toàn có thể “nắm bắt”.
Thực tế, không phải chỉ đến thời điểm này người Thái mới đầu tư vào Việt Nam. Một số tập đoàn lớn của Thái đã xem Việt Nam như một thị trường lớn của họ và đã đầu tư vào rất sớm, có thể tính từ năm 1993.
Tập đoàn Charoen Pokphand (C.P.) đã bắt đầu đầu tư vào Việt Nam từ năm 1993, với nhà máy sản xuất thức ăn gia súc đầu tiên tại tỉnh Đồng Nai. Đến nay, C.P. Vietnam Corp. đang dẫn đầu thị trường cung cấp thức ăn gia súc tại Việt Nam với 18% thị phần. Ngoài ra, hiện C.P cũng chiếm hơn 30% nguồn cung cấp trứng gà và 5% thị phần thịt heo trong cả nước.
Tuy nhiên, trong một thời gian dài sau đó, đầu tư của Thái Lan vào Việt Nam không có dự án nào đáng kể. Đến năm 2012, các công ty Thái mới tăng đầu tư bằng việc nâng cao số lượng và cả giá trị của các thương vụ M&A.
Việc tăng đầu tư vào Việt Nam thời gian gần đây, theo ông Robert Trần, là sự chuẩn bị của người Thái cho việc Việt Nam gia nhập TPP. Ngoài ra, cuối năm 2015 là thời điểm mà Cộng đồng Kinh tế Asean (AEC) với một thị trường chung lên đến 600 triệu người với sự lưu chuyển tự do của hàng hóa, dịch vụ, đầu tư và lao động, có thể sẽ đi vào hoạt động.
Hồi tháng 7, trong buổi giao thương tại Hà Nội, bà Busaba Butrat, Tham tán Thương mại Sứ quán Thái Lan, nhận xét thị trường Việt Nam đang rất thu hút các doanh nghiệp nhỏ và vừa tại nước này do lợi thế dân số trẻ và có khả năng chi tiêu dùng ngay. Hàng hóa Thái Lan cũng được ưa chuộng tại Việt Nam và cơ hội ngày càng rộng mở khi năm 2015, nhiều hàng hóa nhập khẩu sẽ được miễn thuế.
Từ chiến lược “xương sống”
Đây cũng là lý do có thể giải thích vì sao những vụ đầu tư của doanh nghiệp Thái gần đây đều liên quan đến phân phối.
Ngoài những cuộc “xâm lược” quen thuộc như tỉ phú Charoen mua lại Metro hay chuỗi cửa hàng Family Mart; Trung tâm Bách hóa Robins, thành viên của Tập đoàn bán lẻ Central cũng sẽ khai trương tại TP.HCM; C.P. Việt Nam cũng đã lên kế hoạch hoàn thành hơn 10.000 điểm bán lẻ và cửa hàng trên cả nước với nhiều sản phẩm cạnh tranh với các doanh nghiệp nội địa. Đến nay, C.P. mới đầu tư được 400 cửa hàng bán lẻ mang thương hiệu C.P. Fresh Mart, C.P. Kiosk...
Tại sao họ lại chọn đầu tư vào mảng phân phối trong thời điểm này? Theo ông Robert Trần, đây là một chiến lược cho thấy người Thái nhìn rất rộng và sâu về kinh doanh. Bởi với nền tảng phân phối mạnh, thì những sản phẩm của người Thái sẽ được hưởng lợi.
“Một khi đã làm chủ được kênh phân phối, nếu không thành công với sản phẩm này thì họ có thể làm sản phẩm khác. Đó là chưa nói đến tài sản họ có được là lượng khách hàng, kênh phân phối và bất động sản”, ông Robert phân tích.
Phát biểu trong chuyến thăm Việt Nam mới đây sau khi thực hiện thành công thương vụ Metro Cash & Carry Việt Nam, ông Aswin Techajareonvikul, Giám đốc Điều hành của BJC, nhận định sau khi mua lại Metro, “BJC sẽ có một hệ thống phân phối hàng hóa rộng khắp. Và đây là con đường để họ đưa hàng Việt Nam vào hệ thống của mình, cũng như đưa hàng Thái Lan tới người tiêu dùng Việt Nam”.
Trước đó, sau khi cho ra đời hệ thống cửa hàng B’s mart, BJC đã tăng số lượng hàng Thái chiếm tới 70% tại hệ thống siêu thị này.
Một số thương vụ đầu tư của BJC và SCG
Không chỉ có người Thái, gần đây nhiều nhà bán lẻ của Nhật hay Hàn Quốc cũng đang đầu tư mạnh vào lĩnh vực bán lẻ. Có thể kể đến như Lotte của Hàn Quốc hay Aeon của Nhật. Và một điểm chung là các nhà bán lẻ này ưu tiên sản phẩm từ quốc gia của họ.
Thực ra, hàng Thái ở Việt Nam từ trước đến nay rất được ưa chuộng. Tuy nhiên điểm yếu của họ là chưa được phổ biến trong các cửa hàng bán lẻ. Chiến lược tiếp cận người tiêu dùng của sản phẩm Thái cũng không nổi bật, so sánh với các sản phẩm đến từ Hàn Quốc hay Nhật thông qua các trào lưu văn hóa.
Một cách tiếp cận người tiêu dùng và thị trường phổ biến của người Thái là tổ chức các buổi hội chợ hay triển lãm. Cụ thể, hàng năm Cục Xúc tiến Thương mại, Bộ Thương mại Thái Lan - Văn phòng Thương vụ Thái tại TP.HCM đã tổ chức các Tuần lễ Thái Lan liên tục trong suốt 13 năm qua. Thậm chí, gần đây Cung Văn hóa Lao động cũng thường xuyên trở thành điểm bán hàng do các doanh nghiệp nhập khẩu hàng Thái tổ chức.
Đến chuỗi giá trị khép kín
Không chỉ muốn nắm “xương sống” của thị trường, quan sát chiến lược của các doanh nghiệp Thái đầu tư vào Việt Nam còn cho thấy, họ xác định chiến lược đầu tư bài bản và thường đầu tư theo chuỗi giá trị khép kín, thay vì các ngành đơn lẻ.
C.P. bắt đầu từ lĩnh vực sản xuất thức ăn gia súc, sau đó đã dần khép kín quy trình sản xuất khi bổ sung thêm khâu chế biến thực phẩm và phân phối. Hay như SCG, một tập đoàn vật liệu xây dựng với giá trị tài sản của SCG tại Việt Nam đã xấp xỉ 1 tỉ USD. Mặc dù đã bao gồm 19 lĩnh vực trong ngành, nhưng chiến lược của tập đoàn này vẫn là tiếp tục M&A những lĩnh vực mắt xích mới trong chuỗi sản xuất và cung ứng của họ.
Năm 2012, thông qua The Nawaplastic Industries, SCG trở thành cổ đông lớn của Nhựa Bình Minh và Nhựa Tiền Phong. Năm 2013, SCG đã có một thương vụ lớn khi mua lại 85% cổ phần của Tập đoàn Prime với giá 280 triệu USD.
Trong một cuộc trả lời phỏng vấn năm 2013, ông Kan Trakulhoon, Chủ tịch Tập đoàn SCG, cho biết SCG sẵn sàng M&A nhiều hơn nữa đặc biệt là ngành xi măng và vật liệu xây dựng. SCG cũng không ngại khi chia sẻ họ mong muốn tăng tỉ lệ sở hữu tại hai công ty nhựa lên 49%.
Trong Nhựa Bình Minh đã có 20% cổ phần của The Nawaplastic Industries, công ty thành viên của SCG
Hay như, việc công bố muốn trở thành đối tác của Sabeco gần đây của ThaiBev dường như cũng nằm trong chiến lược ban đầu của ông Charoen Sirivadhanabhakdi.
Năm 2010, BJC đã chính thức vào Việt Nam khi trở thành đối tác của Sabeco trong Công ty Bao bì Thủy tinh Malaya Việt Nam (Sabeco nắm 30% cổ phần trong Malaya Việt Nam tại thời điểm đó).
Năm 2011, cùng với Tập đoàn Ball (một trong những nhà sản xuất vỏ lon lớn nhất thế giới), BJC tiếp tục đầu tư mạnh vào lĩnh vực sản xuất lon nhôm phục vụ thị trường nước ngọt, bia với một nhà máy tại VSIP II Bình Dương có công suất thiết kế 750 triệu lon/năm.
Rõ ràng, với việc là nhà cung ứng bao bì thủy tinh hằng năm cho Sabeco, Charoen Sirivadhanabhakdi chắc chắn biết được tiềm năng của Sabeco thực sự là như thế nào.

Khám phá nguyên nhân tập đoàn Thái nhòm ngó thị trường đồ uống Việt Nam

Không chỉ nhắm tới Sabeco, tỷ phú giàu thứ ba Thái Lan còn muốn sở hữu số lượng lớn cổ phần tại công ty sữa hàng đầu của Việt Nam là Vinamilk. Công ty F&N Dairy Investments Pte Ltd của đại gia này đã hoàn tất thương vụ mua 15 triệu cổ phiếu VNM hôm 21/8. Tính thêm số cổ phiếu thưởng chốt ngày 13/8, đơn vị này hiện sở hữu 110,4 triệu cổ phiếu VNM, tương đương 11,04% vốn điều lệ. Tính chung 6 phiên giao dịch vừa qua, giá bình quân mỗi cổ phiếu VNM đạt 113.000 đồng. Sau thương vụ nói trên, công ty đã trở thành cổ đông lớn thứ hai của Vinamilk sau Tổng công ty Đầu tư và Kinh doanh vốn Nhà nước (SCIC).
Những thương hiệu lớn trong ngành đồ uống của Việt Nam đang là mục tiêu mà các nhà đầu tư ngoại muốn chiếm hữu.
Theo Tổ chức Business Monitor International (BMI), nhóm đồ uống và thực phẩm của Việt Nam có tốc độ tăng trưởng hằng năm 9,43%, trong đó doanh thu đồ uống có gas tăng 6,9%. Thứ trưởng Công Thương Hồ Thị Kim Thoa nhận định triển vọng của ngành này rất sáng sủa do đồ uống là mặt hàng không thể thiếu trong tiêu dùng hằng ngày. Dự báo doanh số vào năm 2016 sẽ tăng trưởng ở mức 2 con số.
Đây là lý do khiến nhiều đại gia ngoại theo nhau để mắt tới các công ty đồ uống Việt Nam. Gần đây nhất, ThaiBev - công ty của tỷ phú giàu thứ 3 Thái Lan tiết lộ ý định sở hữu lượng lớn cổ phần tại Công ty Rượu bia nước giải khát Sài Gòn (Sabeco). Trước đó họ đã có buổi gặp với Chính phủ Việt Nam và đề xuất mong muốn mua cổ phần Sabeco. ThaiBev định giá Sabeco ở mức 2 tỷ USD.
Sabeco đang có kế hoạch thành lập hội đồng tái cấu trúc công ty và bán tối đa 53% cổ phần cho một hoặc vài nhà đầu tư chiến lược. Chính phủ hiện sở hữu 89% công ty này. Trao đổi với VnExpress, ông Phan Đăng Tuất, Chủ tịch Hội đồng quản trị Sabeco cho biết đã nhận được xuất này nhưng quyền quyết định cuối cùng thuộc về Bộ Công Thương.
“ThaiBev định giá Sabeco 2 tỷ USD chưa sát với thực tế. Giá trị của công ty cao hơn thế", ông Tuất khẳng định.
Theo hãng nghiên cứu Euromonitor, Sabeco hiện chiếm lĩnh 46% thị trường bia Việt Nam với nhiều thương hiệu như 333 hay Bia Sài Sòn. Báo cáo tài chính 6 tháng của Sabeco cho thấy, hãng đã bán được 649,8 triệu lít bia trong nửa đầu năm, tăng 4% so với cùng kỳ năm ngoái. Doanh thu nửa đầu năm tăng 6% so với năm ngoái lên 14.300 tỷ đồng (680 triệu USD).
Năm 2014, Tổng công ty đặt mục tiêu doanh thu 29.322 tỷ đồng, tăng 3%, còn lãi trước thuế 3.672 tỷ đồng, tăng 3% so với cùng kỳ năm ngoái.
Khá nhiều tên tuổi đình đám một thời trên thị trường bia Việt Nam cũng đã thuộc sở hữu của nhà đầu tư ngoại. Cuối năm 2011, hãng bia Carlsberg (Đan Mạch) mua toàn bộ Huda Beer (bia Huế). Carlsberg cũng đang sở hữu 55% nhà máy bia tại Bà Rịa-Vũng Tàu có công suất 50 triệu lít một năm. Trong liên doanh Nhà máy bia Đông Nam Á (Halida) với Công ty bia Việt Hà, Carlsberg sở hữu 60% và thêm 30% trong liên doanh với Công ty bia Hạ Long. Với Habeco, Carlsberg đang sở hữu 17,23% vốn điều lệ nhưng đang đề xuất tăng phần vốn nắm giữ lên 30%...
Công ty của tỷ phú giàu thứ 3 Thái Lan đang mong muốn sở hữu bia Sài Gòn. Ảnh: WS
"Chính những tỷ lệ sở hữu này cũng gây áp lực lớn cho Bia Sài Gòn khiến 2 năm gần đây thị phần của Sabeco sụt giảm từ 46% xuống 44% trong 2013", một chuyên gia chứng khoán ở TP HCM phân tích.
Không chỉ nhắm tới Sabeco, tỷ phú giàu thứ ba Thái Lan còn muốn sở hữu số lượng lớn cổ phần tại công ty sữa hàng đầu của Việt Nam là Vinamilk. Công ty F&N Dairy Investments Pte Ltd của đại gia này đã hoàn tất thương vụ mua 15 triệu cổ phiếu VNM hôm 21/8. Tính thêm số cổ phiếu thưởng chốt ngày 13/8, đơn vị này hiện sở hữu 110,4 triệu cổ phiếu VNM, tương đương 11,04% vốn điều lệ. Tính chung 6 phiên giao dịch vừa qua, giá bình quân mỗi cổ phiếu VNM đạt 113.000 đồng. Sau thương vụ nói trên, công ty đã trở thành cổ đông lớn thứ hai của Vinamilk sau Tổng công ty Đầu tư và Kinh doanh vốn Nhà nước (SCIC).
Ông Trần Bảo Minh, chuyên gia marketing ngành hàng tiêu dùng cho rằng, tại Việt Nam, Sabeco và Vinamilk đều là 2 công ty đứng đầu nhóm ngành của họ, cho nên việc các nhà đầu tư ngoại nhắm vào những đối tượng này là cơ hội giúp tiếp cận thị trường Việt nhanh nhất.
Tuy nhiên, chỉ khi tỷ lệ sở hữu trên 50% họ mới có thể bắt đầu chi phối và thực hiện triển khai các quyết định lớn. Vì vậy, khi nhắm tới Sabeco họ cũng muốn có trong tay lượng lớn cổ phần chứ không chỉ vài phần trăm. Còn riêng Vinamilk, trong tương lai tỷ lệ sở hữu của đại gia này tại đây có thể sẽ được nâng lên.
"ThaiBev là tập đoàn sử dụng nhiều chuyên gia cao cấp của các tổ chức đa quốc gia nên họ quốc tế hóa thương hiệu rất nhanh. Nếu Bia Sài Gòn dưới sự điều hành của ông chủ này, nhãn hiệu bia của Việt Nam có thể vươn ra thế giới nhanh hơn. Ngược lại, đại gia Thái Lan sẽ có thêm bàn đỡ để từng bước đưa sản phẩm ở phân khúc cao cấp của họ tới người tiêu dùng Việt, cái mà doanh nghiệp trong nước chưa đạt được", ông Minh nói thêm.
Chuyên gia marketing kỳ cựu này nhận định, thị trường đồ uống Việt Nam không chỉ cạnh tranh khốc liệt như hiện nay, mà còn thanh lọc đào thải nhanh chóng nếu các thương hiệu Việt không tự làm mới, tạo uy tín và củng cố chất lượng.

Chia sẻ với bạn tin tức F&B: Dần lọt vào tay DN nước ngoài

Giải thích lý do chấp thuận hợp tác với Mondelez, ông Trần Kim Thành, Chủ tịch Công ty CP Kinh Đô, cho biết: "Kinh Đô định hướng 10 năm tới sẽ phát triển đa ngành nghề, đa sản phẩm. Kinh Đô sẽ tham gia vào những ngành có quy mô lớn và thiết yếu, nên việc chuyển nhượng 80% mảng bánh kẹo cho Mondelez sẽ giúp Kinh Đô có đủ nguồn lực để thực hiện chiến lược của mình. Bên cạnh đó, việc đầu tư này kỳ vọng sẽ mang đến những cơ hội phát triển mới cho các nhãn hiệu cùng đội ngũ nhân sự của Kinh Đô, cũng như bổ sung nguồn lực để đầu tư vào các nhãn hiệu được yêu thích của Kinh Đô bao gồm Cosy, Solite và AFC cho người tiêu dùng Việt Nam".
Thời điểm tốt để bán
Sau khi chiếm lĩnh thị trường thực phẩm, nước chấm, Masan đã đầu tư mạnh lĩnh vực đồ uống, bắt đầu từ thương vụ đầu tư nắm giữ 63,5% Nước khoáng Vĩnh Hảo, 53,2% Vinacafé Biên Hoà và sau đó là chi 252 tỷ đồng để mua Công ty CP Bia và Nước giải khát Phú Yên. Các thương vụ này đang mang lại cho Masan "trái ngọt" đầu tiên.
Theo báo cáo 9 tháng năm 2014, doanh thu của Masan Group đạt 10.833 tỷ đồng, tăng 44,3% so với cùng kỳ năm 2013. Sự tăng trưởng này có dấu ấn của Masan Consumer với những sản phẩm mới ra mắt trong các ngành hàng gia vị, thực phẩm tiện lợi và đồ uống.
Theo đánh giá chung, F&B là thị trường cạnh tranh khá khắc nghiệt, nên một mặt các DN Việt Nam do thiếu nguồn lực thúc đẩy tăng trưởng, có nguy cơ thua lỗ trong 3 - 5 năm nữa, dẫn đến quyết định bán hoặc phải gia tăng sức cạnh tranh mạnh mẽ. Trong khi đó, đây là một ngành có lợi nhuận ổn định và cao nên vẫn có sức hút đối với các tập đoàn lớn trong và ngoài nước.
Đó là lý do được nhiều nhà phân tích nhìn nhận trong thương vụ Tập đoàn Mondelez International (Mỹ), hiện đang có 2 sản phẩm được bán tại Việt Nam là bánh quy Orea và Ritz, đã mua 80% cổ phần tại Công ty CP Kinh Đô Bình Dương với giá 370 triệu USD (7.846 tỷ đồng).
Mức chi tiêu dành cho thực phẩm và đồ uống bình quân đầu người tại Việt Nam hiện đang ở mức thấp nhất, chỉ 201 USD/người (năm 2011).
Nhưng ước tính đến năm 2016, tổng chi tiêu của người tiêu dùng với thực phẩm và đồ uống sẽ tăng lên 25,2 tỷ USD so với mức 17,7 tỷ USD năm 2011.
Giải thích lý do chấp thuận hợp tác với Mondelez, ông Trần Kim Thành, Chủ tịch Công ty CP Kinh Đô, cho biết: "Kinh Đô định hướng 10 năm tới sẽ phát triển đa ngành nghề, đa sản phẩm. Kinh Đô sẽ tham gia vào những ngành có quy mô lớn và thiết yếu, nên việc chuyển nhượng 80% mảng bánh kẹo cho Mondelez sẽ giúp Kinh Đô có đủ nguồn lực để thực hiện chiến lược của mình. Bên cạnh đó, việc đầu tư này kỳ vọng sẽ mang đến những cơ hội phát triển mới cho các nhãn hiệu cùng đội ngũ nhân sự của Kinh Đô, cũng như bổ sung nguồn lực để đầu tư vào các nhãn hiệu được yêu thích của Kinh Đô bao gồm Cosy, Solite và AFC cho người tiêu dùng Việt Nam".
Theo Business Monitor International (BMI), kể từ năm 2010, tốc độ tăng trưởng của ngành bánh kẹo Việt Nam liên tục đạt 10%. Năm 2013, doanh thu của ngành này trên 29.000 tỷ đồng. Tuy nhiên, dự báo đến năm 2014, tốc độ tăng trưởng của ngành (bao gồm cả chocolate) cũng chỉ có thể đạt từ 8 đến 10%.
Vì thế, Kinh Đô muốn có những đầu tư mới vào những ngành có tốc độ tăng trưởng cao hơn. Cụ thể, Kinh Đô đang lên kế hoạch sở hữu tại Tổng công ty Công nghiệp Dầu thực vật Việt Nam (Vocarimex) từ 24% lên trên 51%.
Phía đối tác của Kinh Đô, ông Tim Cofer, Phó chủ tịch cấp cao và Chủ tịch Khu vực Châu Á -Thái Bình Dương, Đông Âu, Trung Đông và châu Phi của Monelez International, chia sẻ: "KDC có 4 điểm hấp dẫn chúng tôi. Một là Kinh Đô sở hữu những nhãn hiệu lớn đã trở thành một biểu tượng của Việt Nam.
Hai là Kinh Đô có nhà máy cả ở miền Nam và miền Bắc. Ba là Kinh Đô phát triển ở nhiều phân khúc thị trường khác nhau, cả nông thôn và thành thị. Và bốn là Kinh Đô có bộ máy quản trị đầy năng lực và kinh nghiệm, có tầm nhìn tương đồng với Mondelez".
"Chọn thỏ, bỏ bò cạp"
Theo ông Đoàn Đình Hoàng, chuyên viên tư vấn thương hiệu, sự dịch chuyển của thị trường F&B trong những năm gần đây bắt nguồn từ 3 yếu tố chính: Tính chất thiết yếu của hàng thực phẩm tiêu dùng giúp các DN trong nước vượt qua suy thoái và tăng trưởng tốt.
Các DN nước ngoài tìm thị trường mới để tăng trưởng và Việt Nam là một lựa chọn tốt vì tiềm năng của nền kinh tế mới nổi và dân số trẻ dồi dào. Người dân cởi mở với các mô hình bán lẻ hiện đại cũng là yếu tố quan trọng khiến thị trường F&B thu hút đầu tư nhiều hơn.
Tuy nhiên, tham gia thị trường này cũng có không ít các DN "bỏ cuộc chơi" do không đủ sức cầm cự trong giai đoạn khó khăn, phần lớn DN Việt không đủ sức cạnh tranh với những DN nước ngoài, chưa thể hiện được sức cạnh tranh cũng như tăng trưởng chậm lại khi làn sóng các thương hiệu nước ngoài tăng mạnh.
Chẳng hạn, hai thương hiệu F&B nổi tiếng của Việt Nam cũng đang ngấp nghé rơi vào tay các DN nước ngoài là Bibica và Tribeco. Kể từ khi mọi hoạt động của Tribeco Sài Gòn chuyển sang cho Tribeco Bình Dương, công ty này cũng gần như biến mất trên thị trường.
Một số thương hiệu F&B nội địa tiếp tục các phương án mở rộng thị trường và giữ thế thủ. Chẳng hạn, Trung Nguyên cũng vừa ký kết hợp tác với Tập đoàn Global Hotels Management LLC (GHM) để mở các chuỗi quán cà phê sang trọng và phân phối cà phê của Trung Nguyên tại Dubai và Ả rập thống nhất (UAE).
Ông Masood Hashim, Phó chủ tịch, Giám đốc Điều hành GHM, cho biết: "UEA là thị trường có tốc độ tăng trưởng lượng tiêu thụ cà phê và trà cao, khoảng 85% suốt 3 năm qua, cao nhất trong khu vực. Ngoài việc mở những chuỗi quán cà phê Trung Nguyên tại Dubai cũng như khu vực UAE, GHM sẽ phân phối các loại cà phê cao cấp Weasel, Legendee và cà phê hòa tan G7 của Trung Nguyên tại thị trường này".
Từng kinh nghiệm trong lĩnh vực F&B và hiện đang hợp tác với Tập đoàn Dole, ông Nguyễn Lâm Viên, Tổng giám đốc Công ty Vinamit, cho rằng, DN Việt Nam sẽ rất khó cạnh tranh trong tương lai nếu không hợp tác với bên ngoài. Đơn cử, doanh số của Vinamit chỉ lên tới vài trăm tỷ đồng, nhưng nếu hợp tác, tham vọng vài tỷ USD cũng không phải là quá khó.
Hiện Dole chỉ bán chuối và mít, nhưng doanh số hằng năm đã lên tới 7 tỷ USD. "Tuy nhiên, hợp tác phải thủ thế. Vì thực tế cho thấy không ít DN F&B của Việt Nam khi hợp tác với nước ngoài đều bị thâu tóm. Làm thế nào để con thỏ cõng mình đi không bị biến thành con bò cạp quay lại cắn mình", ông Viên cảnh báo.

Tại sao gọi Việt Nam là công xưởng giày dép thế giới?

Tuy nhiên, theo ông Nguyễn Hoàng Phi Phụng, Phó trưởng Ban quản lý Khu công nghiệp - Khu chế xuất TP.HCM (Hepza), từ đầu năm đến nay, hầu như đơn vị chưa cấp mới cho bất kỳ nhà đầu tư ngành da giày nào, dù là nhà đầu tư mới hay nhà đầu tư hiện hữu trong các khu công nghiệp mà Hepza quản lý.
Trong khi đó, các DN Trung Quốc, Đài Loan, Mỹ cũng đang tấp nập với các dự án đầu tư mới tại Việt Nam bằng việc mở rộng đầu tư nhà máy, dây chuyền sản xuất. Có không ít kỳ vọng gia tăng đơn hàng sẽ giúp DN da giày Việt Nam có thêm nhiều cơ hội kinh doanh. Nhưng thực tế hoàn toàn không phải vậy, trái lại nhiều dự đoán cho rằng, các DN trong nước đang đứng trước một cuộc chiến "sinh tử" ở ngưỡng cửa TPP.
Dịch chuyển về Việt Nam
DN ngành da giày FDI tiếp tục đổ về Việt Nam dù khối này đang chiếm hơn 80% thị phần của ngành trên tổng số 600 nhà máy đang có mặt tại Việt Nam.
Chia sẻ tại Hội nghị "Nâng cao hiệu quả kinh doanh của nhà máy giày dép" do Hiệp hội Da giày - Túi xách Việt Nam (Lefaso) và Hiệp hội Bán buôn - Bán lẻ giày dép Hoa Kỳ (FDRA) tổ chức giữa tháng 11/2014, ông Scott Thomas, đại diệp Hãng sản xuất giày dép Wolverine Worldwide (Mỹ), DN Mỹ đầu tiên đặt nhà máy tại Việt Nam vào năm 1994, cho biết, Wolverine Worldwide đang muốn chuyển hoạt động sản xuất ra khỏi Trung Quốc, thay vì tập trung 75% đơn hàng tại quốc gia này theo kế hoạch đến năm 2020.
Phần lớn đơn hàng dự kiến sẽ được chuyển sang Việt Nam. Lý do khiến Wolverine Worldwide đưa ra quyết định này là do Trung Quốc đang lạm phát cao, lương tối thiểu tăng mạnh, cũng như áp lực phải chi trả cho người lao động nghỉ hưu đang có chiều hướng tăng ngày càng cao.
Cũng đến từ Mỹ là Tập đoàn Ever Rite International, vào Việt Nam năm 1993, nhưng lại có quyết định nhanh hơn nhiều so với Wolverine Worldwide. Bởi lẽ, tính đến tháng 9/2013, Ever Rite International đã chuyển nhà máy sản xuất cuối cùng sang Việt Nam với 52 dây chuyền sản xuất giày dép.
7,44 tỷ USD

Tính đến đầu tháng 10/2014, tổng kim ngạch xuất khẩu giày dép của Việt Nam đạt 7,44 tỷ USD, chiếm 6,77% trong tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa các loại của cả nước, tăng 23,83% so với cùng kỳ năm 2013.
Theo đại diện của Ever Rite International, ông Oliver Ng, Việt Nam hội đủ nhiều yếu tố giúp Ever Rite International giảm thiểu được một số chi phí liên quan đến các vấn đề như: tỷ giá ổn định, lương tối thiểu thấp, dân số trẻ, nhưng năng suất lao động có thể so sánh với các nước trong khu vực.
Theo Lefaso, xu hướng chuyển dây chuyền sản xuất từ Trung Quốc vào Việt Nam đang gia tăng ngày một rõ nét, ước tính tỷ lệ dịch chuyển hiện nay là 25%, cao hơn cùng kỳ năm 2013. Riêng nửa đầu năm 2014, các thương hiệu như Nike, adidas, Puma đã chuyển lượng lớn đơn đặt hàng từ Trung Quốc và Bangladesh sang nhà máy của Việt Nam.
Không chỉ các thương hiệu lớn này, Tập đoàn Target Sourcing Services, một trong 10 nhà phân phối lớn nhất thế giới, và Tập đoàn Dansu cũng đã khảo sát và có ý định mở rộng, đầu tư vào Việt Nam.
Theo đó, giá nhân công và các chi phí về môi trường tại Trung Quốc đang được xem là một trong những lý do khiến nhiều thương hiệu lớn muốn di dời một số dây chuyền sản xuất sang các nước ở Khu vực Đông Nam Á, trong đó có Việt Nam.
Hai thương hiệu Timberland và Puma cũng đang quay lại với thị trường Việt Nam. Điển hình là Puma sẵn sàng chấp nhận giao hẳn đơn hàng cho nhà sản xuất mà không chỉ định nguồn nguyên liệu nếu DN đáp ứng được.
Tuy nhiên, theo ông Nguyễn Hoàng Phi Phụng, Phó trưởng Ban quản lý Khu công nghiệp - Khu chế xuất TP.HCM (Hepza), từ đầu năm đến nay, hầu như đơn vị chưa cấp mới cho bất kỳ nhà đầu tư ngành da giày nào, dù là nhà đầu tư mới hay nhà đầu tư hiện hữu trong các khu công nghiệp mà Hepza quản lý.
Ông Phụng cũng cho biết thêm, TP.HCM chỉ khuyến khích những DN trong ngành giày, may mặc nhưng chuyên về thiết kế mẫu, phát triển mẫu, chứ không khuyến khích các DN thâm dụng nhiều lao động.
Thực tế, Công ty TNHH Pouchen Việt Nam (Đài Loan), đang gia công cho khoảng hơn 20 các nhãn hàng giày lớn nhỏ trên thế giới trong đó có Adidas, Nike, Puma, Reebook..., vẫn chưa có dấu hiệu biến chuyển, gia tăng đơn hàng.
Theo ông Củ Nghiệp Phát, Chủ tịch Công đoàn Công ty TNHH Pouchen Việt Nam, Pouchen đang có 7 nhà máy đầu tư tại Việt Nam nhưng hiện vẫn chưa thấy có sự gia tăng đơn hàng của các nhãn lớn như adidas, Nike dù rằng năng lực sản xuất nhà máy vẫn có thể tăng thêm. Nhưng đến thời điểm này, điển hình là nhà máy Pouchen (Q.Bình Tân, TP.HCM) vẫn giữ mức sản xuất 5 triệu đôi/tháng.
Riêng DN trong nước, Đông Hưng Group vừa tái ký hợp đồng sản xuất cho Puma sau 2 năm "tạm dừng" vì lý do không chấp nhận chỉ định nhà cung ứng nguyên vật liệu.
Đến nay, khi Puma chấp nhận giao toàn bộ quyền lựa chọn nhà cung ứng nguyên liệu cho Đông Hưng Group thì việc hợp tác mới được tiếp tục. Theo đó, với việc sản xuất cho gần 15 nhãn hàng giày trên thế giới, Đông Hưng Group gia tăng được 30% đơn hàng so với thời điểm năm 2013.
Thế nhưng, ông Hà Duy Hưng, Chủ tịch HĐQT Đông Hưng Group, cho rằng: "Đơn hàng tăng chưa hẳn đã là tin vui. Vì thực tế ranh giới giữa lãi và lỗ trong ngành giày rất mong manh, chỉ cần chút sơ hở là hàng hóa rơi vào cảnh tái chế, phải vận chuyển bằng máy bay chi phí đội lên gấn 3 - 4 lần. Nếu DN không chuẩn bị tốt nội lực như phải biết tự thiết kế mẫu, hoặc có khả năng phát triển mẫu trên hình các hãng yêu cầu thì rất khó để tồn tại". Theo ông Hưng, thời gian qua có quá nhiều các DN giày da nội địa xuất khẩu "gãy gánh" khi sản xuất cho DN khối FDI, lý do cũng vì không có nội lực. Với Việt Nam, khi đàm phán TPP không chỉ có với da giày mà còn rất nhiều ngành khác khác, nếu không hội đủ các tiêu chuẩn thì sẽ rất là khó khăn. "Thực ra, cuộc chơi chỉ dành cho những DN lớn, còn những DN nhỏ sẽ rất khó tham gia!", ông Hưng phân tích.
Chen vào chuỗi liên hoàn của Nike và adidas
Dù là thị trường ngách với các sản phẩm giày thể thao, nhưng tỷ lệ xuất khẩu từ Việt Nam hằng năm lên đến hàng trăm triệu đôi. Một thị phần quá lớn nhưng các DN nội chỉ biết đứng nhìn.
Tính đến ngày 1/5/2014, có gần 80 nhà máy tại Việt Nam gia công cho adidas nhưng hơn 90% trong số này là các công ty Hàn Quốc, Đài Loan... Điển hình như Pou Yuen Co. Vietnam, PungKook Saigon III Co, Ltd... Hầu hết, các đơn vị gia công tập trung chủ yếu ở TP.HCM, Bình Dương, Đồng Nai, Tây Ninh.
Hiện adidas có hơn 1.200 nhà máy tại 65 quốc gia. Năm 2013, có 5 quốc gia và vùng lãnh thổ gia dẫn đầu về gia công cho adidas là: châu Mỹ (Mỹ, Brazil, Canada, Argentina và Mexico), châu Á (Trung Quốc, Việt Nam, Hàn Quốc, Nhật Bản và Indonesia) và EMEA (Anh, Đức, Ý, Thổ Nhĩ Kỳ và Tây Ban Nha).
Tại thị trường Việt Nam, tính đến tháng 11/2014, adidas có gần 100 cửa hàng trải khắp từ Bắc vào Nam, so với con số 30 của đối thủ Nike. Thế nhưng, mỗi năm có khoảng 75 triệu đôi giày của Nike được xuất khẩu từ Việt Nam. Nike vào Việt Nam năm 1995 và ký kết hợp đồng với các đối tác Hàn Quốc, Đài Loan để gia công sản phẩm với 10 nhà máy. Có hơn 75% lực lượng lao động của Nike đến từ châu Á.
Theo phân tích của Business Journal, trong năm 2013, các nhà máy gia công cho Nike ở Việt Nam chiếm 42% tỷ lệ giày dép của Nike trên toàn thế giới. Theo Lefaso, hiện đang có ba quốc gia sản xuất chính cho nhãn hàng Nike là Việt Nam, Trung Quốc và Indonesia với tỷ trọng lớn nhất thuộc về Việt Nam là 42%.
Trong 6 tháng năm 2014, các nhà sản xuất giày dép khổng lồ như Nike, adidas và Puma đã chuyển các đơn đặt hàng từ Trung Quốc và Bangladesh vào Việt Nam. Tỷ lệ dịch chuyển là 25%, cao hơn so với cùng kỳ năm ngoái. Đi cùng với các thương hiệu lớn này, Tập đoàn Target Sourcing Services và Tập đoàn Dansu Group cũng đã khảo sát, đang có ý định mở rộng đầu tư vào Việt Nam.
Tuy nhiên, như phân tích, dù đang có đơn hàng khổng lồ sản xuất tại thị trường Việt Nam nhưng cả Nike và adidas không tạo nhiều cơ hội cho các DN da giày của Việt Nam, chưa kể việc adidas liên tiếp báo lỗ trong nhiều năm. Vì vậy, việc dịch chuyển đơn hàng của hai thương hiệu này chưa thể là niềm vui đối với thị trường Việt Nam.
Theo Lefaso, lợi thế so sánh của Việt Nam hiện nay là cơ hội thu hút đơn hàng. Do đó, ngành da giày nên chủ động đón nhận cơ hội, xây dựng cơ sở hạ tầng để phát triển bền vững. Để được hưởng ưu đãi thuế quan từ TPP, ngành da giày phải đáp ứng yêu cầu về quy tắc xuất xứ với khoảng 40%-50% trị giá xuất xưởng của sản phẩm phải từ nội khối (các nước thành viên) TPP.
Theo ông Nguyễn Đức Thuấn, Chủ tịch Lefaso, hiện không chỉ các DN Việt Nam mà cả DN có vốn đầu tư nước ngoài cũng muốn sử dụng nguyên phụ liệu nội địa để được hưởng ưu đãi từ các FTA. Hiện tỷ lệ nội địa hóa của ngành da giày trên 55%, có những DN hơn 60% nhưng phần lớn là các chuỗi cung ứng của tập đoàn nước ngoài.
Vì thế, để phá chuỗi liên hoàn của các DN FDI, ngành công nghiệp da giày của Việt Nam phải nhanh chóng thay đổi về cơ sở hạ tầng và phát triển ngành nguyên phụ liệu. Đòi hỏi không mới nhưng vẫn luôn là cái đích trước mắt để thay đổi vận mệnh của ngành.
Thời hạn 5 năm
Tuy có kinh ngạch xuất khẩu da giày thuộc hàng Top của Việt Nam với 8,5 tỷ USD năm 2013, dự kiến sẽ tăng thêm 14% năm 2014, nhưng Việt Nam đang cách rất xa vị trí dẫn đầu của Trung Quốc ở thị trường quốc tế. Liệu rằng sự dịch chuyển đơn hàng của các DN FDI có là cơ hội lớn của DN Việt Nam?
Có không ít kỳ vọng gia tăng đơn hàng sẽ giúp DN da giày Việt Nam có thêm nhiều cơ hội kinh doanh. Nhưng thực tế hoàn toàn không phải vậy. Bởi vì, mấy năm trở lại đây, khi đầu tư ở Việt Nam, các DN nước ngoài thường tìm những đơn vị "chân rết" để cung ứng nguyên phụ liệu, nhưng sau đó đều tự cung tự cấp. Gần như là không có sự hiện diện của các DN Việt Nam trong chuỗi sản xuất của họ.
Theo ông Hà Duy Hưng, các DN Đài Loan, Hàn Quốc đều có sự đồng hành của các hiệp hội nước họ. Do đó, khi đầu tư tại một quốc gia nào, họ sẽ mang hết cụm DN đó sang.
Ví dụ, 10 DN làm giày thì sẽ có một DN dệt vải để cung cấp nguyên liệu, rồi DN làm đế, làm nút, làm dây giày... tạo thành một tổ hợp khép kín, nên DN Việt Nam muốn chen chân vào để mua nguyên liệu cũng rất khó, chứ chưa nói đến việc sẽ trở thành một trong những mắt xích của cụm tổ hợp sản xuất đó.
Còn với các DN nhỏ, cạnh tranh đang ngày càng là vấn đề lớn đối với các ngành thâm dụng lao động như da giày. Với các DN gia công xuất khẩu, tình trạng đơn hàng không đủ, vốn quay vòng không kịp nên khó khăn cứ thế mà kéo nhau đóng cửa. Về giải pháp, ông Hà Duy Hưng cho rằng, DN Việt Nam nên tránh chọn giải pháp cạnh tranh trực diện mà chia ra theo từng phân khúc.
Theo báo cáo của Lefaso, tỷ lệ nội địa hóa của ngành mới chỉ chiếm 40-45% (chủ yếu là đế giầy và chỉ khâu), trong khi nguyên liệu quan trọng nhất là da thuộc và da nhân tạo vẫn phải nhập khẩu. Việt Nam chỉ cung ứng được vải cho sản xuất loại giày vải cấp thấp, các chủng loại vải cao cấp đều phải nhập khẩu.
DN phải tự thiết kế, hoặc phát triển được mẫu thì mới biết được sản phẩm cần những nguyên liệu gì, nguyên liệu này bán ở đâu. Qua đó, dễ dàng hướng khách hàng lựa chọn những nguyên liệu ở Việt Nam. Ngược lại, sẽ bị chỉ định nguồn nguyên liệu và thông thường là nguyên liệu ở nước ngoài.
Theo đó, hãng đặt hàng sẽ biết được hết chi phí nên sẽ ép giá DN gia công. "Đây là kinh nghiệm mà Đông Hưng Group đã trải qua. Tuy nhiên, chúng tôi hiện nay đã chủ động hơn, nếu bị chỉ định nguyên liệu sẽ từ chối ngay. Sau này, kể cả trong hợp tác với các đối tác lớn như Puma, Clarks Đông Hưng cũng đưa ra tiêu chuẩn, tự tìm kiếm nhà cung ứng nguyên liệu, miễn sao đáp ứng được nhu cầu của đối tác", ông Hưng cho hay.
Về vấn đề này, ông Diệp Thành Kiệt, Phó chủ tịch Lefaso, nhận định "nếu không thể gia tăng giá trị và sản lượng ở phân khúc thiết kế, nghiên cứu tạo sản phẩm mới; tạo năng lực sản xuất; phân phối sản phẩm thì 5 năm nữa ngành sẽ không thể tăng trưởng được".
Thực tế, DN Việt Nam chủ động như Đông Hưng chỉ đếm trên đầu bàn tay. Các thương hiệu một thời của Việt Nam như Phú Lâm, Hiệp Hưng, An Lạc... chưa phục hồi trở lại. Tuy nhiên, ông Hưng vẫn ước mơ "chỉ cần khoảng 100 DN Việt Nam có doanh thu khoảng 100 triệu USD/năm thì bộ mặt của ngành công nghiệp da giày Việt Nam hoàn toàn khác".

Chia sẻ cầu chuyện về DN vàng nữ trang gặp năm hạn

Về phía DN, lãnh đạo một công ty sản xuất nữ trang lớn tại TP.HCM chia sẻ: "Về công nghệ sản xuất, ngành kim hoàn Việt Nam có thể sánh ngang với các nước trên thế giới nhưng thua về sự chuyên môn (quy mô nhỏ lẻ, phân tán). Nhưng điều khó khăn nhất là các chính sách vẫn chưa tạo điều kiện cho ngành phát triển, thậm chí còn quản rất chặt như xiết nguồn nguyên liệu, thắt chặt vốn vay ngân hàng".
Vàng Trung Quốc áp đảo
Từ đầu năm đến nay, nhiều DN kinh doanh vàng nữ trang ở TP.HCM được chào vàng Trung Quốc (TQ) với giá rẻ hơn 40.000 - 50.000 đ/lượng so với nhập chính ngạch.
Vàng được đóng thành thỏi với trọng lượng khoảng 1kg. Không chỉ giá rẻ, vàng TQ còn được thương nhân nước này mang đến tận các cửa hàng chào bán với hình thức rất linh hoạt: cho gối đầu, nếu bán không được có thể trả lại mà không mất tiền công cũng không phải trả tiền hao hụt vàng (nếu có)...
Không chỉ có vàng thỏi, vàng nữ trang TQ cũng được chào bàn khắp nơi kể từ đầu năm 2013 đến nay. Thậm chí, nhiều thương nhân còn đặt hàng gia công nữ trang từ TQ sau đó dập thương hiệu lên sản phẩm và "hô biến" thành vàng "made in Vietnam".
Theo ông Nguyễn Văn Dưng, Chủ tịch Hiệp hội Kim hoàn - Đá qúy TP.HCM (SJA), hiện TQ sản xuất hai dòng nữ trang, dòng cao cấp xuất sang châu Âu và sản phẩm thấp cấp tiêu thụ ở châu Á. Và dòng sản phẩm thấp cấp ngày càng xâm nhập sâu vào Việt Nam qua đường tiểu ngạch, nhập lậu.
Các chuyên gia vàng cho rằng, có nhiều lý do để vàng TQ "có đất sống" nhưng quan trọng là do nội lực DN trong nước còn yếu. Trong lĩnh vực kinh doanh vàng, các DN Việt Nam đa phần là DN nhỏ, không đủ điều kiện nhập khẩu vàng nguyên liệu nên phải mua vàng miếng của SJC hoặc nguồn vàng phân kim, vàng cũ tái chế, vàng không rõ nguồn gốc... để sản xuất nữ trang.
Mua vàng miếng SJC để sản xuất thì giá thành sản phẩm đội lên cao, khó cạnh tranh, vì thế, vàng TQ với giá rẻ cộng với sự linh hoạt trong thanh toán được tiêu thụ mạnh.
Ông Nguyễn Thành Long, Chủ tịch Hiệp hội Kinh doanh vàng Việt Nam (VGTA), cho biết, hiện vàng TQ chiếm đến 10% thị trường phía Nam và gần 20% thị trường phía Bắc. Bằng mắt thường, người tiêu dùng và cả những người kinh doanh không thể phân biệt được sự khác nhau giữa vàng TQ và vàng trong nước.
Theo thống kê của SJA, hiện có hơn 70% trong số 3.500 DN kinh doanh vàng nữ trang tại TP.HCM phải đóng cửa, tạm ngưng hoạt động.
Sự lấn át của vàng nhập khẩu từ các nước châu Á, đặt biệt là TQ sẽ còn tiếp tục tăng trong thời gian tới. Bởi, hiện tại, số lượng DN nước ngoài tìm cơ hội đầu tư vào Việt Nam đang ngày càng tăng. Ngay như tại Hội chợ quốc tế Trang sức Việt Nam (VIJF 2014) diễn ra đầu tháng 11, số lượng DN đến từ châu Á như Thái Lan, Hồng Kông, Đài Loan... tham gia với số lượng lớn.
Những DN này, ngoài giới thiệu sản phẩm, công nghệ sản xuất còn tích cực tìm kiếm đối tác bán hàng. "Trước sự xâm nhập của vàng ngoại cộng với việc không được vay vốn ngân hàng, không được nhập khẩu vàng nguyên liệu nên DN trong nước phải nhường thị phần cho trang sức nhập khẩu. Điều này đã khiến cho DN vàng trang sức, mỹ nghệ gặp bế tắc, thậm chí phải ngưng hoạt động", ông Dưng cho biết.
Theo thống kê của SJA, hiện có hơn 70% trong số 3.500 DN kinh doanh vàng nữ trang tại TP.HCM phải đóng cửa, tạm ngưng hoạt động.
Thêm rào cản thuế
Theo VGTA, thực hiện chủ trương của Chính phủ, các DN vàng bạc - đá quý Việt Nam đã và đang đầu tư mạnh mẽ vào sản xuất vàng trang sức, mỹ nghệ. Nhiều DN đã xây dựng nhà xưởng, đầu tư công nghệ và dây chuyền sản xuất hiện đại đồng thời với việc tuyển dụng thêm hàng ngàn lao động.
Đơn cử như PNJ đầu tư xí nghiệp nữ trang trên diện tích 12.500m2 với hơn 1.000 thợ kim hoàn, đạt công suất 4 triệu sản phẩm/năm. SJC cũng đã đưa vào hoạt động xí nghiệp nữ trang ở Tân Thuận với công suất lên đến 350.000 - 500.000 sản phẩm/năm...
Theo các chuyên gia vàng, Việt Nam có rất nhiều tiềm năng và lợi thế cạnh tranh về sản xuất vàng trang sức, mỹ nghệ xuất khẩu. Các sản phẩm vàng nữ trang của Việt Nam có hàm lượng 20k (83,33%), 22k (91,66%), thậm chí 24k... rất được ưa chuộng tại các thị trường Thổ Nhĩ Kỳ, Dubai, Trung Quốc...
Dù có nhiều tiềm năng và cũng đã đầu tư đáng kể để chuẩn bị cho xuất khẩu nhưng hướng ra này cũng gặp khó vì thuế suất. Cụ thể, vàng nữ trang xuất khẩu của các nước Trung Quốc, Thái Lan, Indonesia, Ấn Độ... được áp mức thuế 0% thì Việt Nam đang đề nghị áp thuế 2%.
Đó là chưa kể DN những nước này được nhập khẩu vàng nguyên liệu, chi phí nhân công rẻ hơn, thiết bị và công nghệ sản xuất hiện đại hơn, đồng thời được hưởng chính sách ổn định để khuyến khích phát triển thị trường vàng bạc - đá quý.
Ông Long cho rằng, nếu áp với mức thuế này, các DN vàng bạc - đá quý Việt Nam sẽ không thể xuất khẩu được mặt hàng vàng trang sức, mỹ nghệ trong thời gian tới.
Về phía DN, lãnh đạo một công ty sản xuất nữ trang lớn tại TP.HCM chia sẻ: "Về công nghệ sản xuất, ngành kim hoàn Việt Nam có thể sánh ngang với các nước trên thế giới nhưng thua về sự chuyên môn (quy mô nhỏ lẻ, phân tán). Nhưng điều khó khăn nhất là các chính sách vẫn chưa tạo điều kiện cho ngành phát triển, thậm chí còn quản rất chặt như xiết nguồn nguyên liệu, thắt chặt vốn vay ngân hàng".
Theo VGTA, việc xuất khẩu vàng trang sức, mỹ nghệ là xuất khẩu giá trị lao động và tái tạo ngoại tệ từ nguồn nguyên liệu, máy móc, công nghệ nhập khẩu nên cần được khuyến khích để tạo việc làm hàng vạn lao động ở các làng nghề.
Hơn nữa, khi Hiệp định Đối tác Kinh tế chiến lược xuyên Thái Bình Dương (TPP) được ký kết thì ngành vàng bạc - đá quý Việt Nam sẽ còn chịu áp lực cạnh tranh khốc liệt hơn nữa.
Do vậy, VGTA đã đề nghị Bộ Tài chính giữ thuế suất xuất khẩu 0% để tạo điều kiện thuận lợi cho các DN vượt qua khó khăn trước mắt, đồng thời góp phần củng cố lòng tin vào sự ổn định của chính sách để họ yên tâm phát triển sản xuất, kinh doanh, xuất khẩu.

Chia sẻ vấn đề về công ty Nhật: Kim chỉ nam hướng ASEAN

Với kế hoạch quản lý trung hạn năm 2015 làm kim chỉ nam, Tập đoàn Hitachi đang nhanh chóng mở rộng nhóm kinh doanh vì sự tiến bộ của xã hội trên phạm vi toàn cầu. Với ngành kinh doanh này, Hitachi đặt mục tiêu giải quyết những vấn đề của xã hội thông qua việc vận dụng chuyên môn của mình trong cả hai yếu tố là hạ tầng xã hội và công nghệ thông tin.
Các quốc gia ASEAN đã và đang được đánh giá là nơi sản xuất lý tưởng và một thị trường rộng lớn. Do đó, ASEAN đã trở thành một khu vực cực kỳ quan trọng đối với tập đoàn Hitachi cũng như các tập đoàn lớn của Nhật Bản.
Doanh thu của Hitachi tại châu Á trong đó có các quốc gia ASEAN trong năm tài khóa 2013 đạt khoảng 989,9 tỷ yên (9,15 tỷ USD) và Tập đoàn đang có kế hoạch nâng con số này lên tầm 30%, tương đương 1,29 ngàn tỷ yên (11,9 tỷ USD) trong năm tài khóa 2015.
Cho đến nay, Hitachi đã triển khai nhiều nhóm ngành kinh doanh trong khu vực bao gồm các hệ thống hạ tầng cơ sở, vật liệu và cấu kiện chức năng cao, máy xây dựng, phụ tùng ô tô và thiết bị gia dụng.
Với kế hoạch quản lý trung hạn năm 2015 làm kim chỉ nam, Tập đoàn Hitachi đang nhanh chóng mở rộng nhóm kinh doanh vì sự tiến bộ của xã hội trên phạm vi toàn cầu. Với ngành kinh doanh này, Hitachi đặt mục tiêu giải quyết những vấn đề của xã hội thông qua việc vận dụng chuyên môn của mình trong cả hai yếu tố là hạ tầng xã hội và công nghệ thông tin.
Trong tương lai, Hitachi sẽ mở rộng kinh doanh tập trung vào hai mảng chính là công nghệ thông tin và viễn thông với trọng tâm cung cấp các giải pháp tài chính và hệ thống đường sắt. Tại các quốc gia ASEAN, Hitachi đang có kế hoạch thành lập một nhánh riêng chuyên tập trung vào các hệ thống này tại Hitachi châu Á trong tháng 4/2015.
Trong chiến lược thị trường cho từng quốc gia ASEAN, Hitachi xác định: Singapore có lợi thế rất nhiều về mặt địa lý khi đóng vai trò là trung tâm và cửa ngõ đối với các quốc gia ASEAN khác.
Sự kiện Innovation Forum 2014 tổ chức tại Singapore trong hai ngày 18 và 19/11 với chủ đề: "Đổi mới xã hội - tương lai của chúng ta: Tăng cường sức mạnh cho doanh nghiệp và xã hội bằng thông tin", được cho là cam kết của Hitachi với việc thúc đẩy tăng trưởng trong khu vực ASEAN.
Hitachi Châu Á chịu trách nhiệm triển khai kinh doanh cùng với Ủy ban Phát triển Kinh tế Singapore (EDB) và các cơ quan nhà nước khác. Hitachi Châu Á cũng đóng vai trò là nền tảng triển khai các công nghệ độc đáo và phát triển kinh doanh tại các quốc gia láng giềng.
Thái Lan có phạm vi hoạt động rộng nhất với các cơ hội kinh doanh lớn trong lĩnh vực hệ thống truyền tải và phân phối điện cũng như hệ thống đường sắt. Hitachi hiện đang sử dụng nhà máy chủ chốt ở Thái Lan để mở rộng mảng kinh doanh thang máy và thang cuốn cho các thị trường Ấn Độ và Trung Đông.
Hitachi cũng tin rằng Thái Lan là một trung tâm quan trọng của khu vực trong việc phát triển lĩnh vực hậu cần và các mạng lưới cung ứng trong khu vực sông Mekong mở rộng.
Indonesia là thị trường tiềm năng nhất trong số các quốc gia ASEAN, và đang triển khai rất nhiều hoạt động đầu tư trong các lĩnh vực cơ sở hạ tầng bao gồm hệ thống truyền tải và phân phối điện, đường sắt và công nghệ thông tin.
Hitachi sẽ cung cấp biến áp cách điện bằng khí (GIS) cho các thị trường ASEAN và dự định tham gia các dự án xe điện ngầm và tàu điện ngầm (MRT) hiện đang trong giai đoạn lập kế hoạch ở Jakarta.
Việt Nam được mong đợi sẽ đầu tư các mảng cơ sở hạ tầng như T&D, đường sắt, quy hoạch và phát triển đô thị. Năm 2013, Hitachi đã trúng gói thầu tuyến đường sắt đô thị số 1 của TP.HCM, và sẽ mở rộng nhóm ngành kinh doanh này nhằm hướng tới các tuyến đường sắt khác.
Mục tiêu của Hitachi là thắng được những gói thầu trong các dự án hạ tầng cơ sở quy mô lớn có sử dụng nguồn viện trợ ODA. Đến nay, Hitachi Việt Nam có 7 công ty và 587 lao động bao gồm cả lĩnh vực kinh doanh và sản xuất.
Philippines có tỷ lệ tăng trưởng GDP thực tế cao thứ hai tại châu Á và Hitachi đang mở rộng kinh doanh ở đây bao gồm cơ sở hạ tầng xã hội, quy hoạch và phát triển đô thị, thiết bị gia dụng. Malaysia được kỳ vọng sẽ tăng trưởng đáng kể trong một số thị trường như dầu khí, công nghệ thông tin, đường sắt và tài chính.